Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật Việt Nam đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh. Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng pháp luật vẫn còn bộc lộ những tồn tại: một số văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) thiếu tính đồng bộ, quy định chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho quá trình áp dụng. Nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ là một trong những nguyên tắc cốt lõi được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Trong quy trình lập pháp và lập quy, hoạt động thẩm định và thẩm tra là thủ tục bắt buộc nhằm phát hiện, loại bỏ các quy định mâu thuẫn, nâng cao chất lượng văn bản trước khi ban hành. Dù vậy, hoạt động thẩm định, thẩm tra nội dung này trên thực tế vẫn còn hạn chế và chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về tiêu chí tính thống nhất, đồng bộ.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 3 nhiệm vụ:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động thẩm định, thẩm tra tính thống nhất, đồng bộ trong xây dựng VBQPPL (khái niệm, nội dung, vai trò và các yếu tố tác động).
  2. Thu thập, thống kê và phân tích thực trạng công tác thẩm định, thẩm tra tính thống nhất, đồng bộ từ năm 2016 đến nay; đánh giá những kết quả đạt được về số lượng, chất lượng; chỉ ra các hạn chế còn tồn tại cùng nguyên nhân trực tiếp.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm khắc phục các bất cập, nâng cao hiệu quả công tác thẩm định, thẩm tra, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thẩm định, thẩm tra tính thống nhất, đồng bộ trong quy trình xây dựng VBQPPL tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về nội dung: Tập trung vào khâu thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo VBQPPL, trọng tâm là tiêu chí đánh giá tính thống nhất, đồng bộ.
  • Về thời gian: Giai đoạn từ năm 2016 đến thời điểm thực hiện đề tài năm 2022 (tính từ mốc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành).
  • Về không gian: Toàn bộ hệ thống VBQPPL trên phạm vi cả nước Việt Nam từ cấp trung ương đến địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận về Nhà nước và pháp luật, kỹ thuật lập pháp, kết hợp với các quy định pháp luật thực định:

  • Khái niệm và quy chuẩn pháp lý: Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; các quy định tại Điều 39, 58, 63, 64, 68, 73, 124 của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020; Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP của Chính phủ; Quyết định số 05/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; định nghĩa từ Từ điển Luật học (Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, năm 1999 và 2006).
  • Khung khái niệm: Tính thống nhất được hiểu là sự không mâu thuẫn, không chồng chéo, bảo đảm thứ bậc hiệu lực pháp lý theo chiều dọc (phù hợp Hiến pháp và văn bản cấp trên) và tính tương thích theo chiều ngang (giữa các văn bản cùng cấp độ hiệu lực, giữa luật chung và luật chuyên ngành). Tính đồng bộ là sự ăn khớp, nhịp nhàng giữa các quy phạm, thể hiện qua việc ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành nhằm tránh khoảng trống pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là phương pháp phân tích và tổng hợp. Bên cạnh đó, tác giả kết hợp các phương pháp:

  • Phương pháp diễn giải – quy nạp để làm rõ các khái niệm khoa học pháp lý và rút ra các nhận định tổng quát.
  • Phương pháp thống kê số liệu và tư duy logic nhằm tổng hợp, đối chiếu các số liệu thực tế trong báo cáo công tác của các cơ quan nhà nước.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến kỹ thuật soạn thảo, thẩm định và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật (như tài liệu của GS. Phan Trung Lý, Hoàng Thế Liên, Nguyễn Phương Thảo, Vũ Thị Hương Thảo, Nguyễn Văn Biển).

Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận bao gồm các văn bản luật thực định, báo cáo tổng kết ngành Tư pháp (Báo cáo số 01/BC-BTP năm 2016), các báo cáo thẩm định thực tế của Bộ Tư pháp (như Báo cáo số 172/BC-BTP năm 2019, Báo cáo số 181/BCTĐ-BTP năm 2021) và các báo cáo thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội (Ủy ban Quốc phòng và An ninh, Ủy ban Xã hội, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về thẩm định, thẩm tra tính thống nhất, đồng bộ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 1 xây dựng khung lý luận về thẩm định và thẩm tra. Thẩm định trong xây dựng VBQPPL là hoạt động do cơ quan chuyên môn pháp luật (Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế bộ/ngành, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp) tiến hành nhằm xem xét, đánh giá về nội dung, hình thức và kỹ thuật soạn thảo dự án, dự thảo. Thẩm tra là hoạt động xem xét, kiểm tra của các cơ quan dân cử (Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban của Hội đồng nhân dân) trước khi trình cơ quan có thẩm quyền quyết định, thông qua.

Chương này chỉ rõ 3 đặc điểm cơ bản của hoạt động thẩm định, thẩm tra tính thống nhất, đồng bộ:

  • Được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền pháp định;
  • Thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ gồm 4 bước (gửi hồ sơ; chuẩn bị và tổ chức họp; xây dựng báo cáo; gửi báo cáo);
  • Kết quả được thể hiện dưới hình thức văn bản chính thức (báo cáo thẩm định, báo cáo thẩm tra) có giá trị pháp lý bắt buộc xem xét, giải trình.

Nội dung thẩm định, thẩm tra tính thống nhất, đồng bộ được phân tích trên hai khía cạnh:

  1. Chiều dọc: Sự phù hợp của dự thảo với Hiến pháp và các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn;
  2. Chiều ngang: Sự tương thích giữa dự thảo với các VBQPPL cùng cấp về cùng lĩnh vực, mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành, tính logic trong cơ cấu nội tại của văn bản (phần, chương, mục, điều, khoản, điểm).

Chương 1 cũng xác định 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động này: sự hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh; năng lực của đội ngũ cán bộ cùng cơ chế phối hợp liên ngành; nguồn ngân sách bảo đảm; việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin trong số hóa cơ sở dữ liệu pháp luật.

Chương 2: Thực trạng thẩm định, thẩm tra tính thống nhất đồng bộ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 2 đánh giá thực trạng công tác thẩm định, thẩm tra từ năm 2016 đến năm 2022 trên cả hai phương diện số lượng và chất lượng.

Về số lượng, dữ liệu thống kê từ Báo cáo số 01/BC-BTP năm 2016 của Bộ Tư pháp phản ánh khối lượng công việc được thực hiện trong toàn ngành Tư pháp:

Cơ quan thực hiện thẩm định Số lượng văn bản thẩm định năm 2016 Ghi chú so sánh
Sở Tư pháp các tỉnh/thành 5.298 dự thảo Chiếm tỷ trọng lớn tại địa phương
Phòng Tư pháp cấp huyện 5.417 dự thảo Thực hiện tại cấp cơ sở
Pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ 880 văn bản Phục vụ công tác ban hành thông tư, đề án
Bộ Tư pháp 291 dự thảo VBQPPL + 92 điều ước quốc tế Thẩm định các dự án luật, nghị định, quyết định của Thủ tướng
Toàn ngành Tư pháp 11.885 dự thảo Tăng 24,7% so với năm 2015

Về chất lượng, chương luận nêu các dẫn chứng thực tế:

  • Báo cáo thẩm định dự án Bộ luật Lao động đã chỉ rõ các điểm chưa thống nhất với Luật Công đoàn năm 2012 và Luật Doanh nghiệp để kiến nghị sửa đổi đồng bộ.
  • Báo cáo số 181/BCTĐ-BTP ngày 23/10/2021 thẩm định dự thảo Nghị định hướng dẫn Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 (hỗ trợ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi Covid-19) được hoàn thành trong 4 ngày; báo cáo đã phát hiện việc dự thảo định nghĩa lại người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là trùng lặp với Điều 1 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, yêu cầu cơ quan soạn thảo chỉ dẫn chiếu để tránh chồng chéo.
  • Các báo cáo thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng và An ninh đối với dự án Luật Dân quân tự vệ (ngày 16/05/2019) và của Ủy ban Xã hội đối với dự án Luật Thi đua, khen thưởng (ngày 19/10/2021) đã góp phần chỉnh lý nhiều điều khoản nhằm bảo đảm tính thống nhất với các luật hiện hành.

Bên cạnh đó, tác giả phân tích 4 nhóm hạn chế:

  1. Chất lượng báo cáo chưa đồng đều, thường ưu tiên xem xét tính hợp hiến, hợp pháp mà xem nhẹ tính thống nhất, đồng bộ (dẫn chứng Báo cáo thẩm tra Dự án Luật Điện ảnh ngày 18/10/2021 chỉ đưa ra nhận định chung chung "cơ bản bảo đảm").
  2. Đánh giá tính thống nhất, đồng bộ còn mang tính hình thức, dùng các cụm từ mờ nhạt như "cơ bản bảo đảm" (dẫn chứng Báo cáo số 172/BC-BTP ngày 23/09/2019 thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ), thiếu tính phản biện đối với các quy định mang tính định hướng chung chung.
  3. Tiến độ thực hiện thẩm tra, thẩm định còn chậm, xuất hiện tình trạng nợ đọng dự thảo do tài liệu gửi chậm, thành viên kiêm nhiệm nhiều.
  4. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan thẩm định/thẩm tra với cơ quan soạn thảo chưa chặt chẽ, hoạt động còn mang tính khép kín.

Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ 5 yếu tố:

  • Bất cập về thời hạn luật định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Thời hạn thẩm định 15–20 ngày là quá ngắn đối với dự án phức tạp. Xung đột giữa Điều 64 và Điều 73 khiến thời gian thẩm tra của các Ủy ban Quốc hội bị ép xuống chỉ còn 10 ngày, hoặc cơ quan thẩm tra không có thời gian khi tài liệu gửi sát ngày họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Cách thức tổ chức họp, tọa đàm chưa phát huy trí tuệ tập thể, chuyên gia tham gia mang tính hình thức.
  • Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra/thẩm định thiếu chủ động.
  • Nguồn nhân lực còn hạn chế về kỹ năng phân tích, dự báo và còn tâm lý nể nang, ngại va chạm.
  • Kinh phí theo Thông tư số 338/2016/TT-BTC quá thấp (định mức xây dựng báo cáo thẩm định, thẩm tra luật/nghị định chỉ 1.000.000 đồng/báo cáo; văn bản địa phương là 500.000 đồng/báo cáo; chi họp thẩm định 100.000 – 150.000 đồng/người/cuộc họp), cơ sở vật chất và hệ thống số hóa tra cứu văn bản chưa đáp ứng yêu cầu.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thẩm định, thẩm tra tính thống nhất đồng bộ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 3 đề xuất 7 nhóm giải pháp nhằm giải quyết các nguyên nhân đã phân tích:

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung và thời hạn thẩm định, thẩm tra; điều chỉnh thời hạn trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với tính chất phức tạp của từng loại văn bản, xử lý triệt để xung đột thời gian gửi hồ sơ.
  2. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, lãnh đạo về vị trí, vai trò của tiêu chí tính thống nhất, đồng bộ trong xây dựng VBQPPL.
  3. Kiểm tra, rà soát chặt chẽ quy trình thẩm định, thẩm tra, kiên quyết từ chối tiếp nhận hồ sơ gửi muộn hoặc không đầy đủ tài liệu theo luật định.
  4. Nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định, thẩm tra thông qua bồi dưỡng kỹ năng lập pháp, kỹ thuật rà soát văn bản và tư duy phản biện.
  5. Tăng cường sự phối hợp chủ động giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định, thẩm tra ngay từ giai đoạn đầu soạn thảo.
  6. Hiện đại hóa cơ sở vật chất, đầu tư xây dựng hệ thống phần mềm số hóa cơ sở dữ liệu pháp luật tích hợp công cụ tra cứu, đối chiếu tự động phục vụ rà soát quy phạm.
  7. Điều chỉnh chế độ tài chính, sửa đổi định mức chi tại Thông tư số 338/2016/TT-BTC nhằm bảo đảm kinh phí thực tế cho hoạt động nghiên cứu, thuê chuyên gia và tổ chức hội thảo chuyên sâu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động thẩm định, thẩm tra tính thống nhất, đồng bộ, phân định thẩm quyền giữa cơ quan tư pháp và cơ quan dân cử.
  • Khái quát thực trạng áp dụng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 từ năm 2016 đến 2022 thông qua các số liệu và dẫn chứng cụ thể từ các báo cáo thẩm định (Báo cáo số 181/BCTĐ-BTP, 172/BC-BTP) và báo cáo thẩm tra (Luật Dân quân tự vệ, Luật Thi đua khen thưởng, Luật Điện ảnh).
  • Chỉ ra các mâu thuẫn trực tiếp trong quy định thời hạn tại Điều 39, 58, 64, 73 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020) và sự bất cập về định mức chi tài chính tại Thông tư số 338/2016/TT-BTC.
  • Đóng góp khoa học của đề tài: Là công trình chuyên khảo tập trung đánh giá riêng biệt tiêu chí "tính thống nhất, đồng bộ", không dàn trải sang toàn bộ quy trình lập pháp, cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện thể chế xây dựng pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 trong giai đoạn thực hiện, việc tiếp cận thực tế các hồ sơ thẩm định chuyên sâu tại một số địa phương còn hạn chế.
  • Dữ liệu thống kê toàn diện về số lượng văn bản chủ yếu khai thác từ Báo cáo số 01/BC-BTP năm 2016 và một số văn bản điển hình giai đoạn 2019–2021, chưa bao quát toàn bộ số liệu của tất cả các bộ, ngành trong cả giai đoạn 2016–2022.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Đánh giá tác động toàn diện của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sau thời gian dài thực thi đối với công tác thẩm định chính sách và dự thảo văn bản.
  • Nghiên cứu mô hình ứng dụng trí tuệ nhân tạo và hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) trong việc tự động rà soát, phát hiện xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hành chính – Nhà nước tham khảo phương pháp luận và kỹ thuật rà soát tính thống nhất, đồng bộ của văn bản.
  • Cán bộ, công chức làm việc tại Vụ/Cục Pháp chế các Bộ, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và các Ban của Hội đồng nhân dân các cấp trong việc nâng cao kỹ năng xây dựng báo cáo thẩm định, thẩm tra.
  • Các nhà nghiên cứu lập pháp tham khảo các kiến nghị sửa đổi quy định về quy trình, thời hạn và định mức kinh phí xây dựng pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, cơ quan nào của Quốc hội có trách nhiệm chính thẩm tra về tính thống nhất, đồng bộ của các dự án luật?
Căn cứ Điều 68 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật.

2. Bất cập về thời hạn thẩm tra dự án luật trình Quốc hội được tác giả chỉ ra như thế nào?
Khoản 2 Điều 64 quy định hồ sơ phải gửi đến cơ quan chủ trì thẩm tra chậm nhất 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, nhưng Điều 73 lại yêu cầu báo cáo thẩm tra và hồ sơ phải gửi đến đại biểu Quốc hội chậm nhất 20 ngày trước ngày khai mạc. Như vậy, thời hạn thực tế để Hội đồng Dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội tiến hành thẩm tra chỉ vỏn vẹn trong 10 ngày, quá ngắn đối với một dự án luật phức tạp.

3. Mức chi kinh phí cho việc xây dựng báo cáo thẩm định, thẩm tra dự án luật theo Thông tư số 338/2016/TT-BTC là bao nhiêu?
Theo Thông tư số 338/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính, mức chi cho việc xây dựng báo cáo thẩm định, thẩm tra đối với dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội là 1.000.000 đồng/báo cáo; mức chi tham gia họp đối với người chủ trì là 150.000 đồng/người/cuộc họp và thành viên tham dự là 100.000 đồng/người/cuộc họp.

4. Khóa luận đã dẫn chứng ví dụ nào về việc cơ quan thẩm định yêu cầu loại bỏ quy định trùng lặp để bảo đảm tính thống nhất với luật hiện hành?
Tại Báo cáo số 181/BCTĐ-BTP ngày 23/10/2021 thẩm định dự thảo Nghị định hướng dẫn Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15, Bộ Tư pháp đã yêu cầu không quy định lại khái niệm "người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp" tại khoản 1 Điều 1 của dự thảo mà chỉ cần viện dẫn sang Điều 1 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tránh việc quy định trùng lặp, gây thiếu thống nhất.

5. Trong năm 2016, toàn ngành Tư pháp đã tiến hành thẩm định bao nhiêu dự thảo VBQPPL theo thống kê của Bộ Tư pháp?
Theo Báo cáo số 01/BC-BTP năm 2016, toàn ngành Tư pháp đã tổ chức thẩm định 11.885 dự thảo VBQPPL (tăng 24,7% so với năm 2015), bao gồm 5.298 dự thảo do Sở Tư pháp thẩm định, 5.417 dự thảo do Phòng Tư pháp thẩm định, 880 văn bản do tổ chức pháp chế các Bộ/ngành thẩm định, và 291 dự thảo VBQPPL cùng 92 điều ước quốc tế do Bộ Tư pháp trực tiếp thẩm định.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về hoạt động thẩm định, thẩm tra tính thống nhất, đồng bộ trong xây dựng VBQPPL tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích số liệu thực tiễn và các báo cáo thẩm định, thẩm tra điển hình giai đoạn 2016–2022, công trình đã chỉ rõ những kết quả đạt được cùng các bất cập căn bản về thời hạn luật định, quy trình phối hợp và nguồn lực tài chính. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang giá trị thực tiễn, góp phần hoàn thiện kỹ thuật lập pháp và nâng cao chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.