Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Sửu thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Hồng Thái, chuyên ngành Lịch sử và Lý luận Nhà nước và Pháp luật (mã số: 62 38 01 01), bảo vệ năm 2010.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đưa pháp luật vào đời sống xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức hành chính giữ vai trò trung gian trực tiếp chuyển "pháp luật trên giấy tờ" thành "pháp luật trong hành động". Tuy nhiên, thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở Việt Nam giai đoạn này còn bộc lộ nhiều bất cập: trình độ hiểu biết pháp luật chưa tương xứng với yêu cầu quản lý; một bộ phận suy thoái, biến chất, tham nhũng; công tác giáo dục pháp luật cho đối tượng này chưa được tiến hành thường xuyên, đồng bộ, thiếu trọng tâm và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trước thời điểm nghiên cứu, các công trình khoa học chủ yếu tiếp cận vấn đề giáo dục pháp luật nói chung hoặc giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức dưới góc độ quản lý hành chính công, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn vấn đề giáo dục pháp luật dành riêng cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính gắn liền với các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính, đánh giá thực trạng, nguyên nhân bất cập, từ đó xác lập hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đối tượng này.
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện ba nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; làm rõ mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật và những nét đặc thù của hoạt động này.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiểu biết pháp luật và công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính; chỉ ra nguyên nhân và các yếu tố tác động đến hoạt động giáo dục pháp luật ở nước ta.
- Đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử và Lý luận Nhà nước và Pháp luật, tập trung vào phương diện lý luận, thực trạng và giải pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính.
- Phạm vi không gian và đối tượng khảo sát thực tế: Cán bộ, công chức đang công tác tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thuộc 4 cấp hành chính (trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) tại 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1 của luận án, tác giả đã tiến hành phân loại và tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính:
| Nhóm chủ đề |
Các công trình, tác giả tiêu biểu |
Nội dung và giá trị kế thừa |
| 1. Giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật |
- Trước 1980: Bài viết trên Tạp chí Lý luận về ý thức pháp luật XHCN. - Nguyễn Đình Lộc: Luận án PTS (Liên Xô cũ) về ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật. - Trần Ngọc Đường: Luận án PTS về giáo dục pháp luật cho người lao động. - Viện Nhà nước và Pháp luật (Đề tài KX-07-17), Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (Đề tài 92-98-223), Đào Trí Úc (1995), Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (1995). - Đinh Xuân Thảo (1996), Dương Thanh Mai (1996), Hồ Quốc Dũng (1997), Nguyễn Duy Lãm (1997). - Đào tạo cán bộ: Đề tài cấp Bộ của Khoa Nhà nước và Pháp luật - Học viện CTQG Hồ Chí Minh (1999), Nguyễn Ngọc Hoàng (2000), Trần Văn Trầm (2002), Lê Đình Khiên (2002), Lương Thanh Cường (2004), Lê Hồng Hạnh (2002). - Trần Công Lý (2009): Luận án TS Quản lý hành chính công. |
- Đặt nền móng lý luận về khái niệm, đặc điểm, cấu trúc của ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật. - Đề xuất mục tiêu, nội dung, hình thức phổ biến pháp luật cho các đối tượng xã hội cụ thể (người lao động, học sinh - sinh viên, cán bộ trường chính trị, phạm vi tỉnh). - Luận án của Trần Công Lý (2009) tập trung vào giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức nói chung dưới góc độ khoa học Quản lý hành chính công. |
| 2. Cán bộ, công chức và nền hành chính - công vụ |
- Thể chế: Sắc lệnh 76/SL (1950), Nghị định 169/HĐBT (1991), Pháp lệnh Cán bộ, công chức (1998, 2000, 2003), Luật Cán bộ, công chức (2008). - Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (1996), Nguyễn Trọng Điều (1996), Tô Tử Hạ (1998), Lương Trọng Yêm (1996), Thang Văn Phúc (2003), Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2005), Vũ Văn Hiền (2007). - Phạm Hồng Thái (2006) về hoàn thiện thể chế công vụ và thầu công vụ; Đinh Duy Hòa (2007), Trần Đình Hoan (2008), Nguyễn Đức Hạt (2007). |
- Khảo sát thực trạng năng lực chuyên môn, phẩm chất, trình độ học vấn của đội ngũ công chức trong cải cách hành chính. - Luận giải các yêu cầu đổi mới thể chế công vụ, cơ chế cạnh tranh, tổ chức pháp lý công vụ phục vụ xã hội và phòng chống tham nhũng. |
| 3. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam |
- Nguyễn Văn Niên (1996), Nguyễn Văn Thảo (1997). - Lê Cảm (2001) về nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền. - Đào Ngọc Tuấn (2002) về tính phổ biến và đặc thù. - Trần Ngọc Đường (2004), Trần Đức Lương (2002). - Đặng Hữu Toàn (2005), Lương Đình Hải (2006), Phạm Thị Ngọc Trầm (2006). - Đào Trí Úc (2007), Hoàng Thị Kim Quế, Nguyễn Đăng Dung (2008). |
- Luận giải khái niệm, bản chất, nguyên tắc tính tối cao của pháp luật, phân công và phối hợp quyền lực, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. - Phân tích 4 nguyên nhân dẫn đến các biến thể mô hình nhà nước pháp quyền (cơ chế quyền lực, tính chất kinh tế thị trường, văn hóa truyền thống, truyền thống pháp luật). |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây xem xét ba mảng đề tài (giáo dục pháp luật, đội ngũ cán bộ công chức, nhà nước pháp quyền) một cách riêng rẽ. Về mặt đối tượng, các nghiên cứu mới dừng ở cán bộ, công chức nói chung hoặc trên một địa bàn hẹp, trường học cụ thể. Về mặt chuyên ngành, chưa có công trình nào dưới góc độ khoa học Luật học (Lý luận Nhà nước và Pháp luật) kết nối đồng bộ hoạt động giáo dục pháp luật với nhóm đối tượng đặc thù là cán bộ, công chức hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ tư tưởng chủ đạo: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (trọng tâm là lý luận nhận thức); tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về công tác cán bộ.
- Khái niệm và khung lý thuyết:
- Nhà nước pháp quyền: Phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc tính tối cao của pháp luật, phân công quyền lực, dân chủ và bảo đảm quyền con người (xuất phát điểm từ thuật ngữ Reichstag trong tiếng Đức biểu thị nhà nước lập hiến).
- 5 đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: (1) Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (2) Tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính tối thượng của luật; (3) Tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; (4) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; (5) Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, có sự giám sát của nhân dân và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Phân biệt khái niệm: Luận án phân định ranh giới học thuật giữa giáo dục ý thức pháp luật (tác động vào hệ tư tưởng, tâm lý pháp luật) và giáo dục pháp luật (quá trình hoạt động có định hướng trang bị tri thức pháp lý, kỹ năng hành vi pháp luật); phân biệt phương pháp giáo dục pháp luật (cách thức tác động) với hình thức giáo dục pháp luật (phương thức tổ chức biểu hiện ra bên ngoài).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa: Sử dụng trong nghiên cứu cơ sở lý luận, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức hành chính, các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục pháp luật (chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức).
- Phương pháp điều tra xã hội học:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (ankét): Thiết kế phiếu khảo sát thu thập dữ liệu về nhận thức pháp luật, nhu cầu bồi dưỡng, thực trạng tiếp nhận các hình thức giáo dục pháp luật.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trực tiếp phỏng vấn cán bộ quản lý và công chức thừa hành để đánh giá nguyên nhân của các vướng mắc, bất cập trong thực thi công vụ.
- Nguồn dữ liệu: Khảo sát thực tế đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thuộc 4 cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã) trên địa bàn 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2008 (Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001, Luật Cán bộ, công chức 2008, các pháp lệnh cán bộ, công chức qua các thời kỳ); các báo cáo tổng kết của cơ quan nhà nước.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm 4 chương, 8 tiết:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Chương này điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba trục chính: lý luận về giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật; tổ chức nền hành chính, công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức; lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tác giả khẳng định tính độc lập và phân tích sự khác biệt của đề tài so với các công trình trước đó (đặc biệt là phân biệt với luận án tiến sĩ Quản lý hành chính công của Trần Công Lý năm 2009 về chuyên ngành đào tạo, phạm vi đối tượng và bối cảnh nghiên cứu).
Chương 2: Cơ sở lý luận của việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 2 làm sáng tỏ các luận điểm nền tảng về mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính:
- Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền và các yêu cầu đặt ra: Phân tích 5 đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và yêu cầu của nền hành chính quốc gia (năng lực, tinh nhuệ, tiết kiệm, hợp pháp, hợp lý, hiệu quả, phản ứng nhanh).
- Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong thời kỳ mới:
- Phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng: Trung thực, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, không quan liêu, tham nhũng.
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp cao: Nắm vững quy trình làm việc khoa học, xử lý công việc chính xác, thích nghi nhanh với hội nhập quốc tế.
- Trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật và kỹ năng thực thi pháp luật: Am hiểu tổng thể hệ thống pháp luật, nắm sâu pháp luật chuyên ngành, thành thạo quy trình áp dụng pháp luật, có năng lực tổng kết thực tiễn để tham mưu sửa đổi chính sách, pháp luật.
- Kỹ năng ngoại ngữ, tin học, giao tiếp và ngoại giao công vụ: Ứng xử chuẩn mực với người dân, thể hiện nền hành chính phục vụ, chủ động giao lưu và làm việc trong môi trường quốc tế.
- Ba nhóm chức năng, nhiệm vụ pháp lý cơ bản của cán bộ, công chức hành chính:
- Trong công tác xây dựng pháp luật: Chủ trì, soạn thảo dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (cấp trung ương); tham mưu ban hành nghị quyết, quyết định hành chính (cấp địa phương); tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp vào các dự án luật, pháp lệnh; tiếp nhận phản ánh thực tiễn từ nhân dân để kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật.
- Trong công tác triển khai, thực hiện pháp luật: Nghiêm chỉnh tuân thủ nghĩa vụ pháp lý đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân, cơ quan và cấp trên; thực hiện tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật cho công dân; áp dụng pháp luật chính xác, khách quan, không tùy tiện, sách nhiễu.
- Trong công tác kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật: Thực hiện hoạt động thanh tra chuyên trách hoặc kiểm tra, giám sát nội bộ và trật tự quản lý hành chính trong phạm vi phụ trách, đặc biệt ở các lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm (đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài chính, môi trường, an toàn thực phẩm), kịp thời ngăn ngừa vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Chương 3: Thực trạng kiến thức, hiểu biết pháp luật của cán bộ, công chức hành chính và giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở nước ta hiện nay
Dựa trên kết quả điều tra xã hội học tại 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên 4 cấp hành chính, chương này đánh giá:
- Thực trạng trình độ hiểu biết pháp luật của cán bộ, công chức hành chính: Những điểm đạt được và những khoảng trống kiến thức pháp luật chuyên ngành, kỹ năng áp dụng pháp luật trong xử lý công vụ.
- Thực trạng các hoạt động giáo dục pháp luật: Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng; các phương pháp và hình thức giáo dục đang áp dụng (tập huấn, bồi dưỡng theo ngạch bậc, tự học, sinh hoạt chuyên đề...).
- Chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hạn chế: Chương trình đào tạo còn nặng tính lý thuyết, thiếu tính thực tiễn; hình thức tổ chức chưa linh hoạt; cơ chế kiểm tra, đánh giá sau bồi dưỡng chưa gắn chặt với việc sử dụng, đề bạt công chức; sự thiếu đồng bộ trong phối hợp giữa các cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 4 hệ thống hóa các định hướng và giải pháp cụ thể:
- Xác lập các quan điểm chỉ đạo về đổi mới công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính phù hợp với tiến trình cải cách hành chính và yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN.
- Các nhóm giải pháp cụ thể: Đổi mới nội dung, giáo trình, chương trình giáo dục pháp luật theo hướng chuẩn hóa và gắn với vị trí việc làm; đa dạng hóa và kết hợp linh hoạt các phương pháp, hình thức giáo dục; nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, báo cáo viên pháp luật; hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát, đánh giá kết quả học tập pháp luật gắn với quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, công chức; tăng cường cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính cho công tác giáo dục pháp luật.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận giải toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận của việc giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính đặt trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp luật.
- Làm rõ sự khác biệt giữa hai phạm trù giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật đối với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính.
- Làm rõ mối quan hệ giữa mục đích và mục tiêu của giáo dục pháp luật; phân biệt rành mạch giữa phương pháp giáo dục pháp luật và hình thức giáo dục pháp luật; xây dựng hệ thống tiêu chí phân loại chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật thích ứng với yêu cầu của nền hành chính công vụ hiện đại.
- Chỉ ra những nét đặc thù về chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính, hình thành quan niệm khoa học mới về công tác này trong giai đoạn cải cách nền hành chính nhà nước.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Thu thập và xử lý hệ thống dữ liệu thực tế thông qua điều tra xã hội học trên diện rộng (cán bộ, công chức thuộc 4 cấp hành chính tại 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), cung cấp luận cứ thực chứng về thực trạng hiểu biết pháp luật và công tác giáo dục pháp luật của công chức hành chính.
- Đề xuất hệ thống quan điểm có tính định hướng và nhóm giải pháp đồng bộ (đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, nâng cao năng lực chủ thể giáo dục, gắn giáo dục pháp luật với đánh giá và sử dụng cán bộ) nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (không bao gồm toàn bộ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập hay cán bộ thuộc khối cơ quan Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội). Dữ liệu thực chứng phản ánh thực trạng tại thời điểm khảo sát (năm 2010), gắn liền với khuôn khổ của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản pháp luật giai đoạn đó.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế đánh giá định lượng hiệu quả tác động của giáo dục pháp luật đến hành vi công vụ; xây dựng khung chương trình bồi dưỡng pháp luật chuyên biệt cho từng ngạch, bậc công chức và các vị trí việc làm cụ thể trong nền hành chính điện tử và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là tài liệu chuyên khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy môn học Lý luận Nhà nước và Pháp luật tại các cơ sở đào tạo luật; dùng làm tài liệu tham khảo trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính tại Học viện Hành chính Quốc gia, các Trường Chính trị cấp tỉnh, thành phố.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và tiêu chí cụ thể để Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các cấp khảo sát, đánh giá nhu cầu, đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật và xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức hành chính ngang tầm nhiệm vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Điểm khác biệt cơ bản giữa luận án này với luận án của tác giả Trần Công Lý (năm 2009) là gì?
Luận án của Trần Công Lý thuộc chuyên ngành Quản lý hành chính công, tập trung nghiên cứu giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức nói chung. Luận án của Nguyễn Quốc Sửu thuộc chuyên ngành Luật học (Lý luận Nhà nước và Pháp luật), nghiên cứu giáo dục pháp luật cho đối tượng chuyên biệt là đội ngũ cán bộ, công chức hành chính đặt trong bối cảnh cụ thể của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
2. Luận án phân định chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức hành chính đối với pháp luật như thế nào?
Luận án phân tích chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức hành chính trên ba bình diện: (1) Tham gia công tác xây dựng pháp luật (soạn thảo, góp ý, tổ chức lấy ý kiến nhân dân, phản ánh bất cập); (2) Tổ chức triển khai, thực hiện pháp luật (tuân thủ nghĩa vụ pháp lý, tuyên truyền phổ biến pháp luật cho dân, áp dụng pháp luật trong công vụ); (3) Kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện pháp luật (thanh tra, giám sát trật tự hành chính, phòng chống tiêu cực trong các lĩnh vực nhạy cảm).
3. Phạm vi khảo sát thực tế của luận án được tiến hành ở quy mô nào?
Luận án tiến hành điều tra xã hội học đối với cán bộ, công chức hành chính đang công tác tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thuộc cả 4 cấp hành chính (trung ương, tỉnh, huyện, xã) trên địa bàn 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam.
4. Khái niệm Nhà nước pháp quyền được tiếp cận từ nguồn gốc ngữ nghĩa nào trong luận án?
Luận án phân tích thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Đức là Reichstag (kết hợp giữa Reich - đế chế/vương quốc và Tag - nghị viện/hội đồng lập pháp), theo nghĩa gốc dùng để chỉ quốc gia lập hiến xây dựng thể chế chính trị dân chủ trên nền tảng Hiến pháp thể hiện ý chí nhân dân và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quốc Sửu là công trình nghiên cứu toàn diện dưới góc độ khoa học pháp lý về vấn đề giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết, chức năng pháp lý của công chức hành chính, đánh giá thực trạng trên cơ sở khảo sát diện rộng tại 30 địa phương và xác lập hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật. Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng thiết thực trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức và xây dựng nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh.