Mở đầu Nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở trƣờng trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDPL cho học sinh ở các trƣờng THCS huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh các trƣờng THCS huyện U Minh tỉnh Cà Mau. Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát các nghiên cứu liên quan đến đề tài Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền - Nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân, đảm bảo Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật là một trong những mục tiêu cơ bản của Đảng ta.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, GDPLgiúp cho mọi ngƣời nhận thức đƣợc những giá trị của pháp luật và biết sử dụng nhƣ một phƣơng tiện hữu hiệu vào cuộc sống hằng ngày, tạo niềm tin vào pháp luật là một yêu cầu cần thiết và tất yếu cho sự phát triển bền vững của đất nƣớc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. GDPL cho công dân nói chung và cho học sinh THCS nói riêng là một vấn đề quan trọng của mọi quốc gia và đƣợc coi là một phƣơng thức để xây dựng phát triển nền văn hóa pháp lý, bảo đảm sự ổn định và bền vững của mỗi quốc gia. Nhiệm vụ GDPL cho thế hệ công dân tƣơng lai hoàn toàn không thể tách khỏi những nhiệm vụ chung của GDPL đối với quần chúng nói chung. Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi ham hiểu biết, dễ nhạy cảm, nhanh chóng tiếp thu, thích nghi những cái mới, luôn muốn đƣợc thể hiện và khẳng định bản thân, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận HS thiếu bản lĩnh, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật còn yếu kém dẫn đến dễ bị kích động, bị dụ dỗ, lôi kéo, đua đòi ăn chơi dễ tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật làm ảnh hƣởng gia đình, nhà trƣờng, trật tự, an toàn xã hội.
Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao hơn nữa công tác quản lý GDPL cho HS THCS nhằm bồi dƣỡng và tạo điều kiện cho HS có ý thức trách nhiệm công dân, hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật góp phần tạo dựng một môi trƣờng trong nhà trƣờng là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách, tạo tiền đề cơ bản để bảo đảm cho tƣơng lai số phận của bản thân nói riêng và sự ổn định của xã hội nói chung, đồng thời xác định đƣợc trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi thành viên trong xã hội đối với việc chấp hành pháp luật. GDPL nói chung và quản lý GDPL cho HS đã đƣợc quy định trong một số văn bản của Đảng và Nhà nƣớc cũng nhƣ của Bộ GD&ĐT. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa IX) về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân; Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lƣợng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trƣờng” và Quyết định số 1141/QĐ-BĐHĐA ngày 29/3/2013 của Ban điều hành đề án nâng cao chất lƣợng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà 7 trƣờng về Ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Nâng cao chất lƣợng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trƣờng” giai đoạn 2013-2016; Kết luận số 04- KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa IX) về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016; Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Chƣơng trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021; Quyết định số 3957 /QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT ban hành kế hoạch tiếp tục triển khai thực hiện đề án “nâng cao chất lƣợng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trƣờng” đến năm 2021. Bên cạnh đó, có nhiều giáo trình viết về công tác GDPL trong nhà trƣờng của các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nhƣ: “Giáo dục pháp luật trong nhà trƣờng” của tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục; “Giáo trình tâm lí học lứa tuổi và tâm lý học sƣ phạm” của tác giả Lê Quang Sơn; “Giáo trình pháp luật đại cƣơng” của tác giả Nguyễn Hợp Toàn; “Một số vấn đề về lối sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” của tác giả Huỳnh Khải Vinh.
Trong chƣơng trình đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý giáo dục, đã có nhiều luận văn tốt nghiệp; luận án nghiên cứu về hoạt động GDPL nhƣ: luận án “Các biện pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Khắc Hùng (2008); luận văn “Biện pháp quản lí công tác giáo dục pháp luật cho sinh viên đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” của Huỳnh Bọng (2012); luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh các trƣờng THPT huyện Tam Dƣơng tỉnh Vĩnh Phúc” của Nguyễn Thế Dũng (2014); luận văn “Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh” của Vũ Cao Toại (2014); luận văn “Biện pháp quản lý giáo dục pháp luật cho học viên tại các Trung tâm Giáo dục Thƣờng xuyên trên địa bàn Tỉnh Kon Tum” của Văn Viết Hải (2014); luận văn “Biện pháp quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” của Bùi Minh Quảng (2016). Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến những khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giáo dục pháp luật nói chung và GDPL trong nhà trƣờng nói riêng cho từng loại đối tƣợng, thời điểm khác nhau. Cho đến nay, việc tiếp tục nghiên cứu nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về cơ sở lý luận, bản chất, đặc trƣng, nội dung, hình thức GDPL, nhất là việc khái quát thực tiễn GDPL trong tình hình mới để từ đó có sự đổi mới, hoàn thiện công tác giáo dục pháp luật trong nhà trƣờng cho phù 8 hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của đất nƣớc vẫn là một việc làm cần thiết. Tuy vậy, quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh các trƣờng THCS huyện U Minh, tỉnh Cà Mau từ trƣớc đến nay chƣa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học và đầy đủ.
Vì vậy, đề tài của luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã đƣợc công bố từ trƣớc đến nay. Các khái niệm chính 1. Quản lý Ở phƣơng Đông cổ đại, nhất là ở Trung Hoa và Ấn Độ đã xuất hiện tƣ tƣởng quản lý từ rất sớm. Những tƣ tƣởng về phép trị nƣớc của Khổng Tử (551 - 479 TCN), Mạnh Tử (372 - 289 TCN), Hàn Phi Tử (280 - 233 TCN) theo đánh giá của các nhà nghiên cứu hiện đại vẫn còn ảnh hƣởng sâu sắc và đậm nét trong phong cách quản lý và văn hóa của nhiều quốc gia Châu Á, nhất là các nƣớc Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên.
Trong các học thuyết về quản lý phƣơng Đông cổ đại Khổng Tử, Mạnh Tử và một số ngƣời khác chủ trƣơng dùng “Đức trị” để cai trị dân, Hàn Phi Tử, Thƣơng Ƣởng và một số ngƣời khác lại chủ trƣơng dùng “Pháp trị” để cai trị dân. Ở phƣơng Tây cổ đại (vào thế kỷ IV - III TCN) nhà triết học nổi tiếng Xôcơrat cho rằng: những ngƣời nào biết cách sử dụng con ngƣời sẽ điều khiển đƣợc công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt. Những ngƣời không biết làm nhƣ vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc.Tƣ tƣởng về quản lý con ngƣời và những yêu cầu về ngƣời đứng đầu cai trị dân còn tìm thấy trong quan điểm của nhà triết học cổ đại Hy Lạp Platon (427- 347 TCN). Theo ông, muốn trị nƣớc thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân.
Ngƣời đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ, ít tham vọng về vật chất, đặc biệt là phải đƣợc đào tạo kỹ lƣỡng. Vào thế kỷ thứ XVII, có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu nhƣ: Rober Owen (1771 - 1858), Charles Babbage (1792 - 1871), theo F. Taylo (1856 - 1915) ngƣời đƣợc coi là “cha đẻ” của “Thuyết quản lý theo khoa học” thì “Quản lý là đƣợc biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Do những lợi ích lớn lao của quản lý mà sang cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý nhƣ: Tính khoa học và nghệ thuật quản lý, làm thế nào để việc ra quyết định quản lý đạt hiệu lực cao, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển.
Thành công trong quản lý đã tạo ra một số hiện tƣợng nhảy vọt thần kỳ trong phát triển kinh tế - xã hội, nhƣ sự xuất hiện các con rồng Châu Á nhƣ: Nhật Bản, Singapo, Trung Quốc. ở thế kỷ XX. Các nhà lý luận quản lý quốc tế nhƣ Prederics William, Henri Fayol, Max Weber 9 đều đã khẳng định: “Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật”. Quản lý tùy thuộc vào điều kiện, tình huống cụ thể dẫn đến sự vận động của đối tƣợng đến hiệu quả tối ƣu, cho nên ngƣời quản lý khi vận dụng lý thuyết quản lý vào công việc của mình phải hết sức linh hoạt và mềm dẻo.
Ngày nay, thuật ngữ “quản lý” đã phổ biến nhƣng chƣa có một định nghĩa thống nhất. Khái niệm quản lý có nội dung rất chung chung, khái quát, dùng cho cả quá trình xã hội cũng nhƣ quá trình kỹ thuật. Mỗi một định nghĩa thƣờng dùng cho một lĩnh vực quản lý cụ thể và tùy theo cách tiếp cận khác nhau. “Quản lý” là từ Hán Việt đƣợc ghép giữa từ “Quản” và từ “Lý”.
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển.