Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 1. Giáo dục pháp luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là một hoạt động quan trọng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
Hoạt động này có ý nghĩa góp phần nâng cao giá trị của pháp luật trong đời sống. Trong khoa học pháp lý có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về khái niệm PBGDPL. Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội. Giáo dục pháp luật là hoạt động truyền giao thông tin pháp luật một cách có hệ thống, khoa học nhằm tác động lên nhận thức của con người sâu sắc hơn, có tính chất giáo huấn cụ thể hơn.
Theo giáo trình Cao cấp lý luận chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, khi nghiên cứu các quan điểm lý luận về giáo dục pháp luật cho thấy hiện nay đang có ba quan điểm: Thứ nhất, giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng và giáo dục đạo đức, nên nếu tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức tốt thì tức là đã giáo dục pháp luật tốt. Do đó, phải tích cực tuyên truyền đường lối của Đảng. Thứ hai, đồng nhất giữa giáo dục pháp luật với tuyên truyền phổ biến pháp luật, nên chỉ cần sử dụng phương tiện thông tin đại chúng để tuyên 9 truyền phổ biến pháp luật là đủ, mà không cần phải giáo dục pháp luật. Thứ ba, không cần giáo dục pháp luật.
Pháp luật là các quy tắc có tính bắt buộc chung mọi người phải có nghĩa vụ nắm bắt, hiểu rõ và tuân theo. Cái gọi là giáo dục pháp luật thực chất là phổ biến, tuyên truyền pháp luật [25. Vậy hiểu khái niệm giáo dục pháp luật như thế nào cho chính xác. Qua nghiên cứu cho thấy, giáo dục pháp luật thường xuất phát từ khái niệm giáo dục của khoa học sư phạm.
Từ điển tiếng Việt nêu khái niệm giáo dục như sau: “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [76, tr 379]. Theo giáo trình Cao cấp lý luận chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, giáo dục trong khoa học sư phạm có hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của những điều kiện khách quan như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống và sự tác động của các nhân tố chủ quan như giáo dục của cha mẹ, thầy cô giáo, đoàn thể xã hội,… đối với các đối tượng giáo dục (học sinh, sinh viên, cán bộ công chức,…). Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhân tố chủ quan lên đối tượng giáo dục, như giáo dục của thầy, cô giáo đối với học sinh, sinh viên; giáo dục của cơ quan đối với cán bộ, công chức; giáo dục của các tổ chức xã hội đối với các hội viên [25. Giáo dục pháp luật thường được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục trong khoa học sư phạm.
Bởi vì: hoạt động giáo dục pháp luật là một hoạt động có tổ chức bao gồm hàng loạt biện pháp tác động mang tính chủ quan như tuyên truyền pháp luật, phổ biến pháp luật, giải thích pháp luật,… nhằm tác động lên những con người cụ thể làm cho họ hiểu pháp luật và tuân 10 theo pháp luật. Tuy vậy cũng cần lưu ý trong quá trình giáo dục pháp luật để nâng cao tri thức pháp luật cho nhân dân thì điều kiện khách quan có thể ảnh hưởng nhất định, nhưng trong đó quan trọng nhất vẫn là sự tác động của nhân tố chủ quan, tức là sự tác động trực tiếp của chủ thể giáo dục pháp luật đối với các đối tượng được giáo dục. Bởi vì, nhân tố khách quan sẽ tác động tự phát theo chiều này hay chiều kia. Còn nhân tố chủ quan tác động trực tiếp bao giờ cũng là tự giác, có ý thức, có chủ định và theo một hướng xác định.
Như vậy, khi đi sâu xem xét giáo dục pháp luật cho thấy, nó có những nét đặc thù khác với các loại giáo dục khác: Giáo dục pháp luật có mục đích riêng của nó. Đó là hoạt động nhằm hình thành tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật. Giáo dục pháp luật có nội dung riêng, đó là chuyển tải tri thức pháp luật của nhân loại nói chung và từng nhà nước nói riêng cho các cá nhân. Hình thức, phương tiện chủ thể đối tượng, phương pháp giáo dục pháp luật cũng có những nét đặt thù riêng.
Cụ thể: - Thứ nhất, giáo dục pháp luật là một quá trình tác động thường xuyên, liên tục, lâu dài, còn giáo dục bình thường thì chỉ có một lần, hoặc một giai đoạn. - Thứ hai, giáo dục pháp luật được thực hiện ở tất cả các môi trường, như gia đình, trường học, bạn bè, cơ quan, đơn vị vũ trang. - Thứ ba, trong giáo dục pháp luật phải nắm vững được chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng giáo dục pháp luật. Chẳng hạn, chủ thể giáo dục pháp luật phải là người có trình độ, năng lực, hiểu biết sâu sắc pháp luật và là tấm gương để người khác noi theo trong việc tuân thủ pháp luật.
Bên cạnh đó, phải nắm được đối tượng giáo dục pháp luật và phân loại đối tượng, như giáo dục pháp luật cho thanh niên, phụ nữ, cán bộ, công chức để có nội dung giáo dục thích hợp. Như vậy, có thể hiểu giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có tổ 11 chức của chủ thể giáo dục pháp luật, tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành. Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật hướng tới tất cả các đối tượng trong xã hội. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những đối tượng mang nét đặc thù.
Nghị định số 05/2011/ NĐ – CP về Công tác dân tộc của Chính phủ ngày 14/01/2011 quy định: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [9]. Như vậy, có thể hiểu phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số là sự tác động có định hướng của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chuyên trách lên các đối tượng là người dân tộc thiểu số nhằm hình thành ở họ tri thức pháp luật, xây dựng ở họ niềm tin vào pháp luật để họ có đầy đủ khả năng tham gia các quan hệ xã hội phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số mang đầy đủ những đặc điểm của giáo dục pháp luật chung như sau: Thứ nhất, GDPL cho đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận của công tác giáo dục trính trị, tư tưởng. Giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động truyền bá, xây dựng, bảo vệ và phát triển hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền nhằm tập hợp, huy động và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà giai cấp đề ra.
Lê Nin đã nhấn mạnh luật là biện pháp chính trị, là chính trị. 12 Đường lối cách mạng của Đảng ta - chỗ dựa của công cuộc đổi mới mọi mặt về chính trị, kinh tế, xã hội đã đi vào tất cả các mặt của hoạt động lập pháp, chỉ đạo nội dung pháp luật. Có thể thấy rằng ý thức pháp luật là một bộ phận không thể thiếu của ý thức chính trị. Vì vậy, khi thực hiện PBGDPL sẽ tạo khả năng cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng PBGDPL, cụ thể là đồng bào dân tộc thiểu số những hiểu biết nhất định về chính trị.
Ngược lại, giáo dục chính trị có những sự đan xen nhất định trong nội dung của mình những tư tưởng pháp lý. Thứ hai, GDPL cho đồng bào dân tộc thiểu số có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật. GDPL là hoạt động truyền tải thông tin pháp lý đảm bảo với nội dung và tinh thần của pháp luật thực định. Pháp luật là những quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và được Nhà nước thừa nhận, bảo đảm thực hiện.
Bởi lẽ vậy, hoạt động GDPL phải bảo đảm được truyền tải trên tinh thần nghiêm túc, chuẩn xác và bảo đảm những nguyên tắc nhất định. GDPL không chỉ là thông tin cho các đối tượng biết về các văn bản QPPL và các điều luật mà còn phải giải thích để họ hiểu được nội dung của các văn bản QPPL và điều luật đó. Có như vậy, pháp luật trên thưc tế mới được bảo đảm thực hiện một cách đúng đắn và nghiêm túc. Trong quá trình hoạt động GDPL có thể thực hiện hoạt động trao đổi tri thức pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Trước khi thực hiện GDPL cho đồng bào dân tộc thiểu số, chủ thể thực hiện GDPL phải tìm hiểu rõ thực trạng về ý thức pháp luật của đối tượng này. Có như vậy mới có thể đưa ra được phương thức giáo dục phù hợp với đối tượng. Hoạt động GDPL phải được diễn ra tự nguyện trên cơ sở hai bên: nghe, trao đổi, học hỏi và tiếp thu. Điều này có ý nghĩa đối với hoạt động xây dựng pháp luật.
Bởi lẽ, suy cho cùng khi soạn thảo các điều luật, các nhà làm luật trước tiên đều rất coi trọng 13 tính thực tế. Qua việc phổ biến, giáo dục pháp luật thì có thể tiếp cận được nhiều ý kiến, quan điểm của các đối tượng khác nhau. Vì thế, dựa trên những đóng góp ý kiến đó, việc lên ý tưởng và xây dựng các quy tắc xử sự cũng trở nên dễ dàng và mang tính khả thi hơn.