Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số 1. Quan niệm, mục đích, nguyên tắc về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số 1. Quan niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về PBGDPL, trong đó có thể kể như: Quan niệm thứ nhất cho rằng, PBGDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức.
Theo quan niệm này, khi tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng, các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng cho nhân dân thì tự nó sẽ hình thành nên ý thức pháp luật. Hay nói cách khác, sự hình thành ý thức pháp luật là hệ quả tất yếu của việc giáo dục chính trị, tư tưởng hay giáo dục đạo đức. Quan niệm thứ hai cho rằng, PBGDPL chỉ đơn thuần là hoạt động tuyên truyền, giải thích pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, phát thanh, truyền hình. Do vậy, coi đây là chỉ là công việc của hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng.
Quan niệm thứ ba cho rằng, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung. Mọi công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Vì vậy, không cần đặt ra vấn đề PBGDPL. Những quan niệm nêu trên mặc dù ở góc độ nào đó không sai, nhưng chưa đầy đủ.
Pháp luật được ban hành trên văn bản mới chỉ là bước đầu tiên của quy trình QLNN: ban hành, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tổ chức thực hiện, theo dõi thi hành, kiểm tra giám sát. Ở một góc độ khác, có thể thấy PBGDPL là một từ ghép hai từ "phổ biến pháp luật" và "giáo dục pháp luật". Phổ biến pháp luật có hai nghĩa: 8 - Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối tượng của nó. - Nghĩa rộng: là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân.
Theo Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ PBGDPL thì: Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị.) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng [2]. Cả cụm từ PBGDPL có hai nghĩa: - Nghĩa hẹp: là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. - Nghĩa rộng: là công tác, lĩnh vực, bao gồm tất cả các công đoạn như định hướng công tác PBGDPL, lập chương trình, kế hoạch PBGPL, áp dụng các hình thức PBGDPL, triển khai chương trình về PBGDPL, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm về PBGDPL. PBGDPL là quá trình hoạt động thường xuyên, liên tục và lâu dài của chủ thể tuyên truyền lên đối tượng, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống.
Trong công tác QLNN thì PBGDPL được hiểu theo nghĩa rộng và được xác định là một công việc trọng tâm và thường xuyên của các cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành [20]. Từ những đặc thù và phân tích trên ta có thể thấy rõ bản chất của PBGDPL là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể PBGDPL nhằm chuyển tải các tri thức về nhà nước và pháp luật đến đối tượng được giáo dục pháp luật với mục đích hình thành ở họ những tri thức pháp lý, tình cảm, lòng tin và ý thức tự giác tuân thủ pháp luật. Việc PBGDPL cho sinh viên người DTTS là một quá trình triển khai và áp dụng các quy trình của PBGDPL cho đối tượng là sinh viên người DTTS. 9 Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức.
Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ "sinh viên" được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "sinh viên" được dùng để chỉ người học ở bậc đại học[44]. Theo Điều 59, Luật Giáo dục đại học số: 08/2012/QH13 thì: " sinh viên" được hiểu là người học của các cơ sở giáo dục đại học theo chương trình đào tạo cao đẳng và chương trình đào tạo đại học. Cụm từ “dân tộc thiểu số” hiện đang được sử dụng tương đối phổ biến trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và trong đời sống xã hội.
Đây là những khái niệm khoa học liên quan đến vấn đề chính trị - xã hội. Tuy nhiên trong xã hội hiện nay, có lúc có nơi vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về cách gọi cũng như nội hàm của nó. “Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít.
Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia. Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc.
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là 10 một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 90 triệu người. Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người”. Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số” và cách gọi “dân tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung [34].
Như vậy, có thể hiểu : PBGDPL cho sinh viên người DTTS là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có dự định của chủ thể PBGDPL tác động lên đối tượng là sinh viên người DTTS một cách có hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành. Mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên người dân tộc thiểu số Mục đích PBGDPL là hoạt động mang tính định hướng, nhằm nâng cao ý thức pháp luật, hình thành tình cảm, lòng tin và sự tôn trọng đối với pháp luật của Nhà nước, từ đó tự giác xử sự phù hợp với pháp luật hiện hành. Mục đích của PBGDPL là một trong những yếu tố tạo lên cấu trúc bên trong của PBGDPL, là đặc trưng để phân biệt PBGDPL với các loại giáo dục khác như giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức.Việc xác định mục đích của PBGDPL có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cả lý luận lẫn thực tiễn, đó là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp, mang lại chất lượng, hiệu quả cho công tác PBGDPL. Mục đích của PBGDPL cho sinh viên người DTTS bao gồm mục đích tổng quát và mục địch cụ thể.
Mục đích tổng quát của PBGDPL cho sinh viên người DTTS chính là góp phần hình thành và nâng cao văn hóa pháp lý cho từng sinh viên người DTTS và toàn xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN, xây dựng nhà nước pháp quyền. Mục đích cụ thể gồm có bốn mục đích sau: 11 Mục đích thứ nhất, nâng cao hiểu biết pháp luật cho sinh viên người DTTS (Mục đích nhận thức) PBGDPL cho sinh viên người DTTS bao gồm hai lĩnh vực : phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật. Hoạt động giáo dục pháp luật là một hoạt động giáo dục cụ thể gắn bó hữu cơ với hoạt động giáo dục nói chung. Nội dung giáo dục pháp luật là một phần của nội dung chương trình giáo dục.
Giáo dục pháp luật cho sinh viên thực hiện thông qua việc dạy và học nội dung, kiến thức pháp luật trong trong chương trình giáo dục chính khóa qua môn học Pháp luật đại cương, Pháp luật chuyên ngành. Phổ biến pháp luật cho sinh viên được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp [26]. PBGDPL chính là phương tiện truyền tải những thông tin, những yêu cầu nội dung và các quy định pháp luật đến với sinh viên người DTTS, giúp cho họ hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho sinh viên người DTTS.
Mục đích thứ hai, hình thành lòng tin vào pháp luật của sinh viên người DTTS (Mục đích cảm xúc) Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật. Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội. Khi nào sinh viên người DTTS nhận thức được đầy đủ về pháp luật thì không cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế mà họ vẫn tự giác thực hiện. Tạo lập niềm tin vào pháp luật cho sinh viên người DTTS đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố.