Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu gồm vấn đề được nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu luận văn, dữ liệu nghiên cứu và tóm tắt kết quả nghiên cứu và những đóng góp từ kết quả nghiên cứu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng chi NSNN cho giáo dục và đào tạo và tăng tưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố.
Chương 5: Phân tích thực nghiệm tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố. Chương 6: Kết luận kết quả nghiên cứu, gợi ý giải pháp từ kết quả nghiên cứu và những hạn chế của đề tài cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Tóm tắt chương Nhận thấy được vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế và nghiên cứu về tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở các tỉnh, thành của Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy chương một đã đưa ra vấn đề nghiên cứu “Tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh, thành ở Việt Nam”.
Bên cạnh đó, chương một đã nêu câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài đối với việc định hướng quản lý và phân bổ chi NSNN của các địa phương cũng được đề cập trong chương này. Cuối cùng là giới thiệu về kết cấu của luận văn. Từ đó, làm tiền đề cho nghiên cứu của những chương tiếp theo của đề tài.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này luận văn trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết về chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo và tăng trưởng kinh tế, các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng. Sau đó phân tích và nhận xét các kết quả nghiên cứu thực nghiệm có trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu để có cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu ở chương 3. Khái quát về chi NSNN và chi NSNN cho giáo dục và đào tạo 2. Chi Ngân sách nhà nước Trong hệ thống tài khoản quốc gia, chi ngân sách nhà nước được định nghĩa là toàn bộ các khoản chi của Nhà nước được thực hiện trong một thời kỳ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011).
Chi ngân sách Nhà nước còn được định nghĩa là hoạt động của Nhà nước nhằm mục đích phân tích và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước theo dự toán ngân sách Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Về phương diện vật chất, các khoản chi ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ số tiền từ ngân quỹ mà nhà nước sử dụng để đảm bảo cho chức năng, nhiệm vụ của mình. Về phương diện kinh tế, chi ngân sách nhà nước là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế xã hội mà nhà nước phải thực hiện. Do vậy, các khoản chi ngân sách nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia.
(Đại học quốc gia Hà Nội, 2007, p.1) Theo Luật ngân sách nhà nước 2002 thì chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo Chi NSNN cho giáo dục và đào tạo là một trong những khoản chi trong cơ cấu chi của NSNN. Theo hướng dẫn thi hành Luật NSNN của Bộ Tài chính, phân theo nhiệm vụ chi, chi NSNN cho giáo dục và đào tạo bao gồm: Chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. - Chi đầu tư phát triển gồm: + Đầu tư xây dựng các công trình phục vụ cho giáo dục và đào tạo: Trường học, thư viện, phòng thí nghiệm, cải tạo, nâng cấp, mở rộng các tài sản cố định hiện có… + Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện; + Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật; - Chi thường xuyên: Là chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, dạy nghề mang tính chất tiêu dùng nhằm góp phần đảm bảo, duy trì phát triển kinh tế xã hội, gồm chi thường xuyên cho giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo dục khác; Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác.
Ngoài ra, còn có chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện. Các khoản chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo được hạch toán và quyết toán theo mục lục NSNN, có thể chia thành bốn nhóm mục chi sau: + Chi thanh toán cá nhân gồm các khoản chi cho con người như chi lương, các khoản phụ cấp theo lương, các khoản đóng góp BHXH, BHYT, KPCĐ, học bổng học sinh sinh viên, chi tiền thưởng, chi phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ nhân viên và các khoản thanh toán khác như hỗ trợ đối tượng chính sách đóng học phí và chi phí học tập. 10 + Chi nghiệp vụ chuyên môn, hàng hóa dịch vụ quản lý hành chính: chi mua tài liệu, đồ dùng giảng dạy, học tập, hội thảo, chi bồi dưỡng học sinh, bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn, thanh toán dịch vụ công cộng (điện, nước, nhiên liệu.), vật tư văn phòng, thông tin tuyên truyền, chi hội nghị, công tác phí, chi thuê đào tạo lại cán bộ. + Chi mua sắm, sửa chữa: chi mua sắm sửa chữa xây dựng nhỏ phục vụ hoạt động chuyên môn: mua sắm bàn ghế, bảng, thiết bị tin học và các trang thiết bị khác, sửa chữa nhỏ trong trường.
+ Các khoản chi khác: chi cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục và đào tạo theo chế độ, chi trích lập các quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập, chi hỗ trợ đào tạo tay nghề và các khoản chi phí khác (Bộ Tài chính, 2013). Theo Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ, hệ thống NSNN được phân chia thành ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Trong phạm vi đề tài này, chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở các tỉnh, thành phố là khoản chi thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, do các địa phương (các tỉnh, thành phố) thực hiện quản lý, chi tiêu và quyết toán NSNN. Khái quát về tăng trưởng kinh tế và các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế 2.
Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế theo nghĩa chung nhất có thể được hiểu là việc tạo ra nhiều của cải hơn nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoản thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng thể hiện ở quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ (Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung, 2008). Đo lường tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường dựa trên các chỉ số: tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP).
Trong đó, chỉ số tổng sản phẩm (GDP) được dùng phổ biến nhất. Với các chỉ số này, tăng trưởng kinh tế chỉ đơn thuần đề cập đến gia tăng năng lực để tạo ra giá trị gia tăng thông qua các hoạt động kinh tế. Để đánh giá tăng trưởng kinh tế, GDP/GNP tính theo giá cơ sở của cùng một năm gốc (GDP/GNP thực) thường được quan tâm nhiều hơn do loại bỏ được biến động giá cả. - Tổng sản phẩm trong nước (GDP) được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong khoản thời gian nhất định (thường là một năm).
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNI) được đo lường bằng toàn bộ thu nhập hay giá trị sản xuất mà các công dân của một quốc gia tạo ra trong một thời kỳ nhất định không kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia. Ngoài ra, người ta còn dùng tốc độ tăng trưởng kinh tế để đánh giá tăng Yt Yt 1 trưởng. Chỉ tiêu này được tính theo công thức: g x (2.1) Yt 1 Trong đó: - g là tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu X. - Y có thể là GDP thực, GNP thực hay GDP thực tế bình quân đầu người hay GNP thực tế bình quân đầu người (Nguyễn Trọng Hoài, 2010).
Các nhân tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế Trong khi các nhà kinh tế học cổ điển nhấn mạnh vai trò của vốn (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng thì mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) đã xét đến các nhân tố: vốn sản xuất, lao động và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng tới sản lượng và tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế. Tiếp đến là nhóm lý thuyết tăng trưởng mới đề cao nhân tố vốn con người (vốn nhân lực) trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hướng tới việc giải thích chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia, khởi đầu được nghiên cứu bởi nhà kinh tế Theodore Schultz qua bài viết đầu tư vào vốn nhân lực vào năm 1961. 12 Qua nghiên của các nhà kinh tế học có thể thấy vốn vật chất, lao động, vốn con người và tiến bộ kỹ thuật là bốn nguồn cơ bản của tăng trưởng kinh tế: - Vốn là một yếu tố được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất. Nó bao gồm các máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà kho và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Vốn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Cụ thể: đã được Võ Văn Đức và các cộng sự (2005) dẫn dắt: “Công nhân của những nước giàu có do được trang bị nhiều máy móc hơn nên họ có năng suất lao động cao hơn.