Chương 1. Tổng quan: Trình bày tóm lược lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết: Trình bày tổng quan lý thuyết về vốn con người, các đặc trưng cơ bản của vốn con người, các yếu tố tác động đến vốn con người, các tiêu chí phản ánh và đo lường vốn con người; tổng quan lý thuyết về giảm nghèo, thoát nghèo và thoát nghèo bền vững; các yếu tố tác động đến thoát nghèo và thoát nghèo bền vững; các lý thuyết về nghèo của Việt Nam và các tổ chức quốc tế; các yếu tố tác động và nguyên nhân của tình trạng nghèo, thoát nghèo, tái nghèo; vị trí và mối quan hệ của vốn con người với thoát nghèo trong lý thuyết sinh kế; vai trò của vốn con người trong việc thoát nghèo bền vững; các nghiên cứu trước có liên quan đến vai trò của vốn con người đối với thu nhập và thoát nghèo. Thiết kế nghiên cứu: Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu có liên quan và những đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, chương này sẽ trình bày lý thuyết mô hình Binary Logistic, quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu, và mô hình nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả thống kê, mô tả, phân tích dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích của mô hình kinh tế lượng; xác định các yếu tố tác động đến thoát nghèo bền vững của hộ gia đình và kiểm định mô hình. Kết luận, gợi ý chính sách: Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả gợi ý một số chính sách nhằm giúp hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu thoát nghèo bền vững. Trang 6 Đồng thời cuối chương này cũng nêu ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Trang 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày tổng quan lý thuyết về vốn con người, các đặc trưng cơ bản của vốn con người, các yếu tố tác động đến vốn con người, các tiêu chí phản ánh và đo lường vốn con người; tổng quan lý thuyết về giảm nghèo, thoát nghèo và thoát nghèo bền vững; các yếu tố tác động đến thoát nghèo và thoát nghèo bền vững; các lý thuyết về nghèo của Việt Nam và các tổ chức quốc tế; các yếu tố tác động và nguyên nhân của tình trạng nghèo, thoát nghèo, tái nghèo; vị trí và mối quan hệ của vốn con người với thoát nghèo trong lý thuyết sinh kế; vai trò của vốn con người trong việc thoát nghèo bền vững; các nghiên cứu trước có liên quan đến vai trò của vốn con người đối với thu nhập và thoát nghèo.
Vốn con người 2. Khái niệm vốn con người “Vốn con người” (tiếng Anh là Human capital) còn được gọi hay dịch trong nhiều tài liệu là vốn nhân lực (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008), tr.13-14) hay là tư bản con người. Và trong thực tế có nhiều khái niệm về vốn con người.41-156), sức lao động với toàn bộ năng lực, thể lực, trí lực, ở khía cạnh nào đó cũng có thể được hiểu là vốn con người. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), vốn con người là kiến thức, kỹ năng, năng lực và những thuộc tính tiềm tàng trong mỗi cá nhân.
Theo Becker (1992), vốn con người là sự kết hợp không thể tách rời kiến thức, kỹ năng, sức khỏe của một cá thể, là một của cải tư mang đến lợi tức cho người có cái vốn đó. Theo Bùi Quang Bình (2009), vốn con người có 3 nguồn gốc hình thành: Thứ nhất là năng lực ban đầu - gắn liền với yếu tố năng khiếu, bẩm sinh; thứ hai là tích lũy từ quá trình giáo dục, đào tạo chính quy; và thứ ba là tích lũy từ quá trình sống và làm việc. Ngoài yếu tố bẩm sinh, vốn con người cơ bản được xem là kết quả của quá trình đầu tư, tích lũy thể hiện qua bằng cấp, chứng chỉ về trình độ.1: Các yếu tố cấu thành vốn con người Trang 8 Hình 2.1: Các yếu tố cấu thành vốn con người VỐN CON NGƯỜI Hiểu biết, đo Kiến thức bằng trình độ Cách thức vận dụng kiến thức Kỹ năng vào thực tế Điều kiện chủ quan Khả năng hoặc tự nhiên để thực hiện Nguồn: Tác giả xây dựng trên cơ sở khái niệm vốn con người Kiến thức “Kiến thức” được định nghĩa là những hiểu biết do tìm hiểu, học tập. Kiến thức còn được dùng đồng nghĩa với tri thức - với nghĩa là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội (Viện Ngôn ngữ, 2007).
Kiến thức là một khái niệm chung, có phạm vi rất rộng, có thể phân loại thành các nhóm: kiến thức phổ thông, kiến thức nghề nghiệp, kiến thức tự nhiên, kiến thức khoa học, kiến thức xã hội, kiến thức chung, kiến thức cụ thể… Kỹ năng “Kỹ năng” là cách thức, năng lực vận dụng những tri thức/kiến thức một lĩnh vực nào đó vào thực tế. Thực chất là sự thực hiện được, làm được một hành động, hoạt động, việc làm nào đó ở mức độ chủ động, độc lập (Viện Ngôn ngữ, 2007). Kỹ năng được hình thành trên cơ sở kiến thức và qua quá trình luyện tập. Căn cứ vào các yếu tố hợp thành kỹ năng và tính chất phức tạp của hoạt động để phân loại thành: kỹ năng đơn giản và kỹ năng phức tạp; cũng có thể căn cứ vào dạng hoạt động để phân loại kỹ năng; kỹ năng đọc, kỹ năng viết, kỹ năng nói, kỹ năng phân tích, kỹ năng tổng hợp; cũng có thể căn cứ vào tính phổ biến của kỹ năng trong hoạt động để phân loại thành: kỹ năng chung và kỹ năng riêng… như vậy có rất nhiều loại kỹ năng.
Khả năng Trang 9 “Khả năng” hay “năng lực” được hiểu là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó (Viện Ngôn ngữ, 2007). Khả năng hay năng lực luôn gắn với hoạt động cụ thể và có thể được hiểu là gồm cả yếu tố thể lực, tâm lý trong hoạt động. Như vậy về nội hàm, khái niệm vốn con người sử dụng trong luận văn này có sự thống nhất cao với quan điểm của học giả lớn như Becker và các tổ chức như OECD… 2. Các đặc trưng cơ bản của vốn con người Theo Thái Phúc Thành (2014), vốn con người được hiểu là tập hợp các kiến thức, khả năng, kỹ năng mà con người tích lũy được, vì vậy vốn con người có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, vốn con người bao hàm nhiều yếu tố khó có tách biệt bao gồm: kiến thức, kỹ năng, khả năng (sức khỏe, tâm lý…).
Vốn con người trước hết thuộc về mỗi cá nhân con người có yếu tố mang tính bẩm sinh (năng khiếu, di truyền…), có yếu tố hình thành, biến đổi trong quá trình học tập, rèn luyện (chính quy và không chính quy) hay hình thành và phát triển trong quá trình sinh trưởng, hoạt động của con người… Thứ hai, mặc dù vốn con người thuộc về cá nhân con người, nhưng không phải lúc nào cá nhân con người cũng có thể kiểm soát được quá trình tích lũy và các cách thức để tích lũy và sử dụng nó (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), tr. Trong những năm đầu cuộc đời, các quyết định liên quan đến vốn con người không do chủ nhân của nó mà do cha mẹ, thầy cô giáo, chính phủ và xã hội quyết định thông qua các thể chế giáo dục và xã hội. Đến khi con người trưởng thành, có thể tự chủ và độc lập trong cuộc sống, thì họ có quyền quyết định quá trình đầu tư vào vốn con người của mình, những ảnh hưởng từ xã hội và các khuôn khổ thể chế được thực thi tại nơi họ sinh sống sẽ tiếp tục tác động đến quá trình hình thành vốn con người của mỗi cá nhân. Thứ ba, vốn con người có cả mặt lượng và mặt chất.
Mặc dù chúng ta dễ dàng định lượng được số năm đi học của mỗi cá nhân, nhưng đầu tư vào vốn con người lại không đồng nhất về chất. Ví dụ, những người có bằng đại học Harvard có thể có mức vốn con người cao hơn những người tốt nghiệp ở các trường đại học ít tên tuổi hơn. Thứ tư, vốn con người vừa có tính cá nhân, vừa có tính cộng đồng. Kiến thức có thể mang tính cộng đồng nếu con người sử dụng chúng trong nhiều hoạt động và nếu chúng được truyền từ người này sang người khác một cách dễ dàng mà không làm giảm nhiều giá trị.
Ngược lại, vốn con người mang tính cá biệt nếu người ta chỉ sử dụng nó trong một số ít Trang 10 hoạt động, ví dụ như người lao động không thể đem kinh nghiệm, kỹ năng học hỏi được từ doanh nghiệp này sang ứng dụng tại một doanh nghiệp khác do đặc thù chuyên môn mỗi nơi khác nhau, do đó vốn con người mà anh ta tích lũy được trở nên mất giá trị. Thứ năm, vốn con người chứa đựng những hiệu ứng ngoại sinh. Khi nói đến hiệu ứng lan tỏa (một loại hiệu ứng ngoại sinh) của vốn con người, có thể hiểu theo hai nghĩa. Một là, cá nhân này có thể tác động tới năng suất lao động của một cá nhân khác và tác động tới hiệu quả của vốn vật chất.
Hai là, với khả năng nhất định, mỗi cá nhân có thể làm việc năng suất hơn trong một môi trường có mức vốn con người cao. Đặc trưng này của vốn con người giải thích cho nguyên nhân hình thành cũng như vai trò quyết định của những trung tâm tập trung vốn con người cao, như các trường đại học, các thành phố, trung tâm nghiên cứu hay tổ hợp các hãng công nghệ cao. Những “trung tâm” này có tác động rất mạnh mẽ đối với sự phát triển và tiến bộ của kiến thức, công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Thứ sáu, vốn con người mang tính “bản địa”.
Vì vốn con người là kiến thức, kỹ năng, khả năng nên nó được hình thành và phát triển trong những điều kiện địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể. Vì vậy, vốn con người mang tính bản địa và cũng vì thế mà vốn con người có thể phù hợp và phát huy được ở điều kiện này mà không phù hợp hay không phát huy được ở môi trường khác. Các yếu tố tác động đến vốn con người Cũng theo Thái Phúc Thành (2014), vốn con người là các yếu tố thuộc về cá nhân con người như kiến thức, kỹ năng, khả năng.