Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, đặc điểm của giáo dục pháp luật 1. Khái niệm giáo dục pháp luật Hiện nay ở nước ta, khái niệm giáo dục pháp luật vẫn còn nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau, có thể khái quát các quan điểm chính, như sau: Quan điểm cho rằng pháp luật là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung và mọi người đều có nghĩa vụ phải tuân thủ pháp luật, vì vậy không cần phải nêu ra vấn đề giáo dục pháp luật, bản thân pháp luật sẽ thực hiện chức năng của mình bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ, về các chế tài đối với những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh, điều cần thiết phải làm là công bố và phổ biến các văn bản pháp luật để các chủ thể nắm được và thực hiện. Quan điểm coi giáo dục pháp luật là bộ phận của giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức.
Điều đó có nghĩa là chỉ cần tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng đạo đức là mọi chủ thể trong xã hội đã có ý thức pháp luật cao, có sự tự giác, tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Sự đồng nhất này đã dẫn đến việc xem nhẹ công tác giáo dục pháp luật, đã có thời gian dài ở nước ta không thực hiện chương trình giáo dục pháp luật riêng biệt mà gắn kết vào chương trình giáo dục đạo đức, chính trị. Việc đào tạo chuyên ngành luật chưa được Nhà nước chú ý, mãi đến cuối những năm 70 Nhà nước mới thành lập các cơ sở đào tạo luật gia ở trình độ đại học và đến năm 1987- 1988 việc giáo dục pháp luật mới được bắt đầu đưa vào chương trình giáo dục ở bậc phổ thông. Quan điểm coi giáo dục pháp luật đồng nghĩa với việc tuyên truyền, giới thiệu, giải thích, phổ biến các văn bản pháp luật, giáo dục pháp luật thực chất chỉ là các đợt tuyên truyền, cổ động khi có văn bản pháp luật mới ban hành như: Hiến pháp; các Bộ luật, các Luật v.
Quan điểm cho rằng giáo dục pháp luật đồng nghĩa với việc dạy và học pháp luật trong các nhà trường. Với quan điểm này cho thấy việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội là không phải giáo dục pháp luật. 7 Các quan điểm nêu trên đều còn phiến diện, chưa thấy được tính đặc thù, sự tác động của hoạt động giáo dục pháp luật lên các chủ thể nên chưa có quan niệm đầy đủ và đúng đắn về giáo dục pháp luật, chưa thấy được vai trò, giá trị xã hội của giáo dục pháp luật. Ở đây, khái niệm pháp luật không chỉ là văn bản quy phạm pháp luật, là mô hình được các nhà Lập pháp nghiên cứu và thông qua, mà phải được thể hiện trong cuộc sống.
Pháp luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống thông qua cơ chế điều chỉnh bao gồm các giai đoạn: Ban hành, tuyền truyền giáo dục, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, trong cơ chế đó yếu tố con người là cơ bản. Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, con người phải lựa chọn hình thức, cách xử sự để thể hiện qua hành vi. Đây là một quá trình tâm lý phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Ở giai đoạn này, quy phạm pháp luật có khả năng tác động lên ý thức của cá nhân.
Do đó, việc phổ biến văn bản pháp luật mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để cá nhân hành động phù hợp theo yêu cầu của pháp luật. Điều kiện đủ ở đây là cá nhân phải có ý thức pháp luật đúng đắn. Ý thức đó có thể hình thành dưới sự tác động liên tục, thường xuyên của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan (hoạt động giáo dục pháp luật) dẫn đến hành vi hợp pháp của cá nhân. Vì vậy, khi công bố luật mới còn phải tuyên truyền, giáo dục thường xuyên, lâu dài mới đảm bảo rằng luật đó được thực thi trong cuộc sống.
Khái niệm giáo dục pháp luật cần xuất phát từ khái niệm giáo dục của khoa học sư phạm, trong khoa học sư phạm giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của những điều kiện khách quan như chế độ xã hội, môi trường sống, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán v. và sự tác động của nhân tố chủ quan như sự tác động có ý thức có mục đích có kế hoạch và định hướng của con người lên việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục. Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể giáo dục tác động lên khách thể giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu nhất định như: truyền bá những kinh nghiệm trong sản xuất, trong đấu tranh; những 8 tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để khách thể (đối tượng) có đủ khả năng để tham gia vào đời sống xã hội.
Giáo dục pháp luật trong thực tiễn hiện nay theo quan niệm chung của nhiều nhà khoa học đều tán thành theo nghĩa hẹp của giáo dục, đó là: giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể giáo dục tác động lên khách thể giáo dục, nhằm đạt được các mục tiêu nhất định như: Truyền bá những kinh nghiệm trong sản xuất, trong đấu tranh; những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để khách thể (hay đối tượng) có đủ khả năng tham gia vào đời sống xã hội. Trong thực tiễn, tuy thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiện khách quan là to lớn đối với việc hình thành ý thức cá nhân con người, các nhà khoa học sư phạm vẫn nhấn mạnh yếu tố chủ quan như là yếu tố tác động hàng đầu, cực kỳ quan trọng, thậm chí mang tính chất quyết định trong giáo dục. Khái niệm giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp có ý nghĩa trong việc phân biệt phạm trù giáo dục pháp luật với phạm trù ý thức pháp luật. Hai phạm trù này có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một.
Hoạt động giáo dục pháp luật là sự tác động của nhân tố chủ quan mà trước hết là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định thành một hệ thống của nhiều chủ thể, còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của cả điều kiện khách quan lẫn sự tác động có định hướng của nhân tố chủ quan. Giáo dục pháp luật là nhân tố tác động đối với sự hình thành ý thức pháp luật, còn thực tiễn pháp luật là nhân tố ảnh hưởng. Sự phân biệt hai phạm trù này có ý nghĩa quan trọng là tạo ra khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn của hoạt động giáo dục pháp luật. Từ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục trong khoa học sư phạm để xây dựng khái niệm giáo dục pháp luật, cho ta thấy rõ hơn mối quan hệ giữa cái riêng, cái đặc thù của giáo dục pháp luật với cái chung, cái phổ biến của giáo dục.
Giáo dục pháp luật vừa mang những đặc điểm chung của giáo dục, sử dụng các hình thức, phương pháp của giáo dục nói chung, vừa thể hiện những nét đặc thù riêng có của mình trong mối liên hệ chặt chẽ với các loại hình giáo dục khác như giáo dục chính trị, 9 giáo dục đạo đức. Tính đặc thù của giáo dục pháp luật thể hiện ở cả mục đích, nội dung và ở cả hình thức, phương pháp. Tính đặc thù của giáo dục pháp luật khác với các dạng giáo dục khác ở chỗ: Giáo dục pháp luật có mục đích riêng của mình, đó là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật. Giáo dục pháp luật có nội dung riêng, đó là sự tác động định hướng với nội dung cơ bản là chuyển tải tri thức của nhân loại nói chung, của một nhà nước nói riêng về hai hiện tượng nhà nước và pháp luật, trong đó pháp luật thực định hiện hành của nhà nước là bộ phận vô cùng quan trọng.
Xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục cũng có thể chỉ ra các nét đặc thù của giáo dục pháp luật. Chẳng hạn, giáo dục pháp luật so với các dạng giáo dục khác đó là quá trình tác động liên tục thường xuyên, lâu dài chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tượng giáo dục. Vì thế, giáo dục pháp luật trở thành sợi chỉ đỏ xuyên qua gia đình, nhà trường, các tập thể lao động, các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội. Nhân tố con người với hành vi hành động hợp pháp đóng vai trò chủ đạo trong quá trình tác động qua lại giữa người giáo dục (chủ thể) với người được giáo dục (đối tượng).
Người được giáo dục là người chịu sự tác động có tổ chức, có định hướng các thông tin pháp luật. Vì thế hiểu biết trình độ, đặc biệt là đặc điểm nhân thân của người được giáo dục pháp luật là đòi hỏi hàng đầu đối với người giáo dục. Đồng thời người giáo dục cần phải nắm vững tri thức pháp luật, biết cách chuyển tải nó, hơn nữa phải là tấm gương, là hình mẫu trong việc tuân theo pháp luật, bởi vì trong giáo dục pháp luật thì nguyên tắc làm gương, làm mẫu có ảnh hưởng rất lớn đối với người được giáo dục. Tóm lại, giáo dục pháp luật là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người trình độ pháp lí nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật.
Đặc điểm của giáo dục pháp luật 1. Đặc điểm về đối tượng và chủ thể giáo dục pháp luật Quá trình giáo dục pháp luật thực chất là quan hệ xã hội, giữa một bên là người giáo dục pháp luật (chủ thể giáo dục pháp luật) và một bên là người được giáo dục pháp luật (đối tượng giáo dục pháp luật). Mối quan hệ này có sự tác động qua lại lẫn nhau, giữa các bên tham gia. Việc xác định chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn của hoạt động giáo dục pháp luật.