Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CHO HỌC SINH, SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ CẤP TỈNH 1. Nhận thức chung về quyền con người và giáo dục pháp luật về quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Trước hết cần hiểu rõ thuật ngữ human rights (tiếng anh) và quyền con người theo tiếng thuần Việt hay nhân quyền theo tiếng Hán - Việt đều có nghĩa tương đồng. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì “nhân quyền chính là quyền con người” [46, tr.
Ngày nay, khoa học pháp luật phát triển đã cho chúng ta nhiều căn cứ để hiểu khái niệm quyền con người đầy đủ hơn trong sự vận động biện chứng của lịch sử, song có thể hiểu, khái niệm quyền con người được thiết lập bởi hai yếu tố cơ bản: Trước hết, quyền con người được hiểu là những đặc quyền vốn có, tự nhiên của con người và chỉ con người mới có. Đó là những khả năng hành động một cách có ý thức, né tránh, từ chối hoặc yêu cầu giành lấy những cái gì đó, nhất là khả năng tự bảo vệ. Nhưng, bản thân quyền vốn có, tự nhiên chưa phải đã là quyền. Để đạt tới cái gọi là quyền, cần có yếu tố thứ hai thiết định, đó là quy chế pháp lý, các đặc quyền (quyền tự nhiên) của cá nhân con người khi trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, được pháp luật chấp nhận, tổ chức, bắt buộc hoặc ngăn cấm thì mới trở thành các quyền con người, do đó có thể nói, không có pháp luật thì không có quyền.
Quyền con người có được là nhờ sự tiếp cận, thâm nhập của hai yếu tố đó và đạt đến sự thống nhất giữa cái khách quan và chủ quan của quyền của quyền con 10 Luan van người được ghi nhận trong hiến pháp, pháp luật của mỗi quốc gia và các công ước quốc tế về nhân quyền. Một trong những khái niệm được coi là phổ biến về Quyền con người là khái niệm được đưa ra bởi Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”. Một định nghĩa khác cũng khá phổ biến, là: “Quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội. đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người” [27, tr.
Dù không nêu rõ khái niệm quyền con người, nhưng trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 cũng đã nêu lên nhận thức chung về quyền con người. Theo đó, “Những chân lý sau đây đã được chúng tôi công nhận như những sự thật hiển nhiên là tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể thay thế được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền con người là: “Những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [25, tr. Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý,.
Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người theo những góc độ khác nhau. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định. Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người tuỳ thuộc vào sự nhìn 11 Luan van nhận chủ quan của mỗi cá nhân. Trên cơ sở tiếp thu điểm hợp lý của một số định nghĩa về quyền con người, chúng tôi cho rằng: quyền con người là quyền của tất cả mọi người; đó là những nhu cầu xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người dưới các hình thức chuẩn mực khách quan, được xã hội thừa nhận và bảo đảm bằng các quy định pháp luật.
Quyền con người có những đặc điểm: - Thứ nhất, quyền con người từ góc độ đạo đức – tôn giáo Quyền con người bắt nguồn từ các quan niệm về chuẩn mực đạo đức, các đối xử giữa người với người trong xã hội. Các giá trị đạo đức có thể tìm thấy trong học thuyết của các tôn giáo. Các ý tưởng về quyền con người trở thành những quy phạm đạo đức – tôn giáo, đề cao và cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm. Có thể nói quá trình phát triển của quyền con người luôn phản ánh và mang nặng dấu ấn của các giá trị và quy tắc đạo đức, tôn giáo.
- Thứ hai, quyền con người từ góc độ lịch sử - xã hội Nhìn từ góc độ lịch sử - xã hội, quyền con người bắt nguồn từ các quan hệ xã hội, là kết quả và phụ thuộc vào sự vận động của các quan hệ xã hội. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội loài người tồn tại những quan niệm khác nhau về các quyền, tự do và nghĩa vụ, cũng như những quy phạm và cơ chế khác nhau để thực hiện, giám sát và bảo vệ các quyền, tự do và nghĩa vụ đó. Theo đó, quyền con người ngày càng mở rộng, từ ý niệm, tư tưởng đến các quy tắc, quy phạm và cơ chế; từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Vì thế, quyền con người luôn mang những dấu ấn về chính trị, kinh tế, văn hoá của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội loài người.
- Thứ ba, quyền con người từ góc độ triết học Sự hình thành và phát triển của quyền con người phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao và phản ánh quy luật tiến hoá trong 12 Luan van nhận thức, hành động của con người về khái niệm sơ khai nhất về tự do, công bằng, bình đẳng. Những tư tưởng triết học về quyền con người là nền tảng pháp lý cho việc pháp điển hóa các quyền con người vào pháp luật quốc gia và quốc tế, cũng như việc bảo đảm thực hiện các quyền này trên thực tế. - Thứ tư, quyền con người từ góc độ chính trị Quyền con người là vấn đề ảnh hưởng, chi phối quan hệ chính trị cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Quyền con người trở thành một trong các chủ đề trung tâm trong các chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia.
- Thứ năm, quyền con người từ góc độ pháp lý Những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất với tất cả các chủ thể trong xã hội. Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý. Tính chất của quyền con người Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các tính chất cơ bản là: tính phổ biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, cụ thể như sau: Tính phổ biến Tính phổ biến của nhân quyền thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, 13 Luan van mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người.
Ở đây, mọi thành viên của nhân loại đều có được công nhận có các quyền con người, song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vào năng lực của cá nhân từng người, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… mà người đó đang sống. Tính không thể tước bỏ Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Ở đây, khía cạnh “tuỳ tiện” nói đến giới hạn của vấn đề. Nó cho thấy không phải lúc nào nhân quyền cũng “không thể bị tước bỏ”.
Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước tự do theo pháp luật, thậm chí bị tước quyền sống. Tính không thể phân chia Tính không thể phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người. Tuy nhiên, tính chất không thể phân chia không hàm ý rằng mọi quyền con người đều cần phải được chú ý quan tâm với mức độ giống hệt nhau trong mọi hoàn cảnh.
Trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất định, miễn là phải dựa trên những yêu cầu thực tế của việc bảo đảm các quyền đó chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị của quyền được chăm sóc y tế; còn trong bối cảnh nạn đói, quyền được ưu tiên phải là quyền về lương thực, thực phẩm. Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn 14 Luan van thương trong khi vẫn tôn trọng quyền của tất cả các nhóm khác. Điều này không có nghĩa là bởi các quyền được ưu tiên thực hiện có giá trị cao hơn các quyền khác, mà là bởi các quyền đó trong thực tế đang bị đe doạ hoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác.