Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ 1. Nhận thức chung về sinh viên các trường Đại học Quân sự 1. Khái niệm sinh viên các trường đại học quân sự Khái niệm “Sinh viên” với nghĩa là người làm việc, học tập, tìm hiểu, khai thác tri thức. Hiểu theo nghĩa thông thường thì “Sinh viên” là những người đang học trong các trường đại học, cao đẳng.
Từ nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: Sinh viên trong các trường ĐHQS là những người đang học tập và nghiên cứu khoa học trong hệ thống trường quân đội. Hệ thống trường quân đội là một bộ phận quan trọng trong tổ chức biên chế của QĐND Việt Nam, sự ra đời của hệ thống trường quân đội được đánh dấu bằng việc thành lập trường Quân chính kháng Nhật (tháng 6 năm 1945), đến nay hệ thống nhà trường quân đội đã có tới hàng chục trường, có khả năng đào tạo từ nhân viên kỹ thuật đến cán bộ trung cao cấp, từ sơ cấp đến sau đại học. Hệ thống trường quân đội được nhập vào hệ thống giáo dục quốc dân từ tháng 3 năm 1979 theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ. Về cơ bản quá trình đào tạo trong nhà trường quân đội đều thực hiện theo chế định chung của Nhà nước.
Tuy nhiên, do đặc thù của lực lượng vũ trang nên quá trình đào tạo trong nhà trường quân đội có những đặc điểm riêng biệt như Điều lệ công tác nhà trường QĐND Việt Nam ác định: “Bộ Quốc phòng ây dựng và chỉ đạo thực hiện chủ trương và biện pháp phát triển công tác nhà trường, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác nhà trường, quản lý thống nhất hệ thống trường quân sự về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch đào tạo” [1, tr. Cục nhà trường - Bộ Tổng tham mưu là cơ quan đầu ngành quản lý về công tác 8 Luan van giáo dục trong quân đội, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về công tác quản lý giáo dục đào tạo ở các nhà trường trong QĐND Việt Nam. Trong hệ thống trường quân đội thì các trường đại học là nơi trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, sĩ quan cấp phân đội cho toàn quân. Để đáp ứng yêu cầu của hoạt động quân sự khẩn trương, chính ác nên ngay từ đầu khi thành lập các nhà trường quân đội đã đề cao việc giáo dục, ây dựng cho học viên nền nếp chính quy, tác phong quân sự và sự chấp hành kỷ luật nghiêm minh trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường để khi học viên ra trường: “Có phẩm chất chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong sáng; có mặt bằng kiến thức trình độ đại học theo các nhóm nghành tương ứng của Nhà nước; có kiến thức quân sự chuyên ngành, ngoại ngữ, tin học, năng lực tư duy và thực hành nhiệm vụ theo chức trách ban đầu” [10, tr.
Trường quân đội có đặc thù là vừa mang tính chất của một cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học, vừa mang tính chất một tổ chức hành chính quân sự. Về tổ chức điểm khác biệt giữa trường quân đội đối với trường ngoài quân đội là sinh viên ngay từ khi vào trường và cả trong thời gian học tập, rèn luyện, được sắp ếp, biên chế theo tổ chức đơn vị quân đội, gồm có tiểu đội, trung đội, đại đội và tiểu đoàn (hệ). Từ cấp đại đội trở lên có cán bộ quản lý chuyên trách việc tổ chức học tập và rèn luyện của sinh viên. Sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện luôn có sự quản lý chặt chẽ của đội ngũ cán bộ các cấp để bảo đảm mọi hoạt động của sinh viên tuân theo quy định của điều lệnh, điều lệ quân đội, pháp luật Nhà nước.
Sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện ở nhà trường được quân đội bảo đảm nơi ăn, ở, mặc và các phương tiện sinh hoạt. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo người dạy và người học không chỉ tuân thủ các quy định về giáo dục đào tạo của Nhà nước mà còn phải thực hiện nghiêm túc điều lệnh, điều lệ của quân đội, các chế độ 9 Luan van quy định của nhà trường. Do tính đặc thù của nhà trường quân đội đòi hỏi mọi hoạt động của sinh viên như học tập, rèn luyện, tuần tra canh gác, trực ban, trực chiến sẵn sàng chiến đấu. phải được quản lý thống nhất theo một kế hoạch, thời gian địa điểm.
Sự quản lý hành chính được thể hiện ở việc duy trì nghiêm túc các chế độ nề nếp như: thể dục buổi sáng, sắp đặt nội vụ, vệ sinh, bảo quản vũ khí trang bị. theo quy định của điều lệnh quản lý bộ đội [2]. Thông qua việc quản lý hành chính giúp cho giáo viên, cán bộ, sinh viên có điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt các bước tổ chức giáo dục kỷ luật và giúp sinh viên có điều kiện để rèn luyện bản thân về mọi mặt, nhất là rèn luyện ý chí quyết tâm và thói quen hành vi kỷ luật đúng đắn. Trong các nhà trường quân đội nói chung và ở các trường ĐHQS nói riêng, đa phần được chia làm hai hệ: Hệ quân sự, người học được gọi là học viên và Hệ dân sự, người học được gọi là sinh viên (trong phạm vi luận văn này gọi chung là sinh viên), như vậy có thể hiểu là sinh viên hệ quân sự ở các trường ĐHQS là sinh viên, hạ sĩ quan, binh sĩ, quân nhân chuyên nghiệp đã trúng tuyển trong các kì thi đại học, thi tuyển sinh quân sự theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo, của Bộ Quốc phòng, (hoặc được cử tuyển) được đào tạo theo chương trình ác định với những chuyên ngành khác nhau.
Sau khi tốt nghiệp, sinh viên hệ quân sự được đào tạo sĩ quan được phong quân hàm sĩ quan, điều động, bổ nhiệm chức vụ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị theo yêu cầu nhiệm vụ, còn sinh viên hệ dân sự giống như các trường đại học dân sự khác theo quy chế của Bộ giáo dục và đào tạo. Sinh viên các trường quân đội là một bộ phận thanh niên của cả nước, là lực lượng sĩ quan tương lai hùng hậu của quân đội trong sự nghiệp ây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Sau khi ra trường họ sẽ trở thành các sĩ quan chỉ huy có nhiệm vụ quản lý, tổ chức mọi hoạt động của cơ quan đơn vị theo đúng đường lối quan điểm của Đàng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh Quân đội, vì vậy khi còn ngồi trên ghế giảng đường đòi hỏi quân nhân phải phục 10 Luan van tùng nghiêm túc pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội, chế độ, nền nếp, trật tự đã quy định trong tập thể, họ cần được giáo dục hình thành ý thức pháp luật, thái độ tích cực và chủ động trong thực hiện, chấp hành các quy định của pháp luật của Nhà nước, các quy tắc về công tác quản lý bộ đội cũng như chỉ thị của người chỉ huy. Đặc điểm sinh viên các trường đại học quân sự Từ khái niệm sinh viên các trường ĐHQS như trên, ét dưới góc độ đối tượng để GDPL thì sinh viên các trường ĐHQS là một bộ phận của sinh viên nói chung và có các đặc điểm cơ bản sau: Một là, sinh viên hầu hết có động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn và u hướng nghề nghiệp rõ ràng, có khả năng nhận thức nhanh Để được học tập, rèn luyện tại các trường ĐHQS, mọi sinh viên hệ quân sự phải trải qua quá trình nỗ lực phấn đấu, được lựa chọn và trải qua sơ tuyển, thi tuyển nghiêm túc, chặt chẽ.
Những thí sinh có đủ điểm trúng tuyển, được gọi nhập học và được công nhận là sinh viên đào tạo sĩ quan theo mô hình, mục tiêu đào tạo của từng trường đều nhận thức đầy đủ giá trị của sự phấn đấu của bản thân, từ đó ây dựng động cơ, thái độ trách nhiệm học tập, rèn luyện đúng đắn, ác định u hướng nghề nghiệp rõ ràng, mong muốn được phục vụ lâu dài trong Quân đội. Hơn nữa, kết quả, chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên đào tạo sĩ quan ở các trường ĐHQS sẽ liên quan trực tiếp đến việc sắp ếp, bố trí sử dụng, cân nhắc đề bạt đội ngũ đó khi tốt nghiệp ra trường. Do vậy, mỗi sinh viên đào tạo sĩ quan đều có động lực mạnh mẽ, trực tiếp thôi thúc họ học để làm việc, trở thành cán bộ, được phục vụ lâu dài, để tiến bộ. Mặt khác, sinh viên đào tạo sĩ quan được sinh ra, lớn lên trong thời k đất nước đổi mới theo định hướng XHCN, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, có điều kiện thuận lợi 11 Luan van để học tập, lĩnh hội tri thức, tiếp thu những kiến thức pháp luật ở trường học cũng như qua các kênh thông tin, truyền thông để tiếp cận những vấn đề mới.
Khả năng nhận thức, ý thức tự lập, tự chủ cao hơn các thế hệ trước. Đó là điều kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng GDPL, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của các trường ĐHQS. Hai là, sinh viên các trường ĐHQS là một nhóm ã hội dân cư có tính phức hợp rất cao, hàm chứa trong đó nhiều sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, tâm linh và các mô hình ứng ử và lựa chọn ã hội. Bởi lẽ nó hàm chứa trong đó những cá thể ở độ tuổi trưởng thành có nguồn gốc uất thân từ nhiều vùng miền, dân tộc, khác nhau, thuộc mọi giai tầng trong ã hội dưới sự tác động của nhiều định hướng ý thức hệ, tư tưởng, truyền thống, mô hình ứng ử và với nhiều loại thói quen, tập tục khác nhau.
Vì vậy, trong nghiên cứu về GDPL đối với sinh viên cần phải đặc biệt lưu ý đến tính phức hợp và tính đa dạng cao của nhóm ã hội - dân cư này, đồng thời phải luôn luôn đặt nhóm đó trong mối liên hệ với các nhóm ã hội - dân cư, hoặc những cộng đồng dân cư khác nhau để em ét, tham chiếu. Thứ ba, tuổi trẻ, năng động, ưa thử nghiệm, dễ phạm sai lầm và gây ung đột là đặc điểm chung của sinh viên nói chung và sinh viên trường ĐHQS cũng không ngoại lệ ở mọi thời đại, mọi quốc gia - dân tộc. Cái chung, cái thống nhất căn bản nhất của “sinh viên” chính là ở tuổi trẻ, ở độ tuổi “thanh niên”. Trong cuộc đời của mỗi con người thì tuổi sinh viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng.