Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHO BIEN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO PHỤ NỮ DÂN TỘC THIẾU SÓ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phố biến, giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiểu số 1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiểu số * Khai niệm pho biến, giáo dục pháp luật Phổ biến, giáo dục pháp luật là là nội dung quan trọng dé cu thé hoa hoat động quan lý xã hội của nha nước bằng pháp luật, nó không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà nó còn có ý nghĩa xã hội, văn hóa và nhân văn dé hoạt động quản lý của nhà nước có hiệu lực và hiệu quả trong đời sống xã hội. Qua hoạt động đó sẽ giúp chủ thé và khách thé của hoạt động phô biến, GDPL hiểu và biết được những quy định của pháp luật dé họ thực hiện đúng vai trò va trách nhiệm của mình khi tham gia vào công tác PBGDPL cũng như các quan hệ pháp luật.
Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất Da Nang năm 1997 thì: "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vân đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó”. Từ điển từ và ngữ Hán - Việt thì "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục dich, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những pham chat dao đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội" [33, tr. Các tài liệu khác nghiên cứu về giáo dục, pháp luật thì quan niệm “Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị.) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng”; Phổ biến và giáo dục pháp luật nhằm mục đích nâng cao nhận thức của nhân dân; tuy nhiên hoạt động đó cần phải được tiến hành một cách rộng khắp va cần phải được tô chức và tiến hành một cách có hệ thống và chặt chẽ hướng tới những đối tượng và phạm vi nhất định. Quan niệm về phổ biến, GDPL được da phần các nhà nghiên cứu và các tác giả đồng nhất trong các tài liệu khoa học pháp lý như sau: Phổ biến, GDPL là hoạt động có định hướng của cơ quan, tô chức, có chủ chương và kế hoạch của chủ thé thông qua những hình thức và phương pháp dé tác động lên khách thể là đối tượng tác động; qua đó hình thành cho khách thé những tri thức pháp lý, có ý thức và tình cảm, tạo niềm tin để có những hành vi phù hợp với những quy định của pháp luật mà khách thé đó tham gia trong xã hội.
* Khái niệm Phổ biến, Giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiểu số - Phụ nữ vùng dân tộc thiểu sỐ “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thé nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 2, điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP). Dân tộc thiểu số là cụm từ dùng để chỉ chung cho 53 dân tộc anh em đang cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam có dân số ít hơn so với dân tộc Kinh (đa số). “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ôn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Khoản 4 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc). Vùng dân tộc thiểu số là vùng mà người DTTS chiếm đa số trong cơ cấu dân số.
Theo khảo sát, hau hết vùng DTTS đều có kết cấu ha tang chưa hoàn thiện, điều kiện sản xuất và đời sống còn nhiều khó khăn. Phụ nữ vùng DTTS là khái niệm chỉ cộng đồng phụ nữ đang sinh sống ở vùng DTTS - Phổ biến, Giáo dục pháp luật cho phụ nữ dan tộc thiểu số Phổ biến, giáo dục pháp luật cho phụ nữ là một phan trong phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, tuy nhiên đã được cụ thể hóa về đối tượng được phô biến, giáo dục. Khác với nam giới phụ nữ có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý, nhận thức, trình độ rất khác nhau giữa các vùng, miền. nên đòi hỏi có sự giáo dục riêng cho phủ hợp.
Từ khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật, chúng ta có thé hiểu rằng phô biến, giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiêu số là hoạt động có định hướng, có tô chức, có chủ định của chủ thê giáo dục, tác động lên phụ nữ dân tộc thiêu số nhằm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành. Đặc diém của phổ biến, giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiểu số 1. Đặc điểm của pho biến, giáo dục pháp luật cho dong bào dân tộc thiểu số Trên thực tế và theo các văn bản của các cơ quan nhà nước có thâm quyền, Việt Nam hiện có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Tại thị xã Mường Lay có 9 dân tộc, trong đó có 5 dân tộc thiểu số.
Theo Hiến pháp và nhiều văn bản pháp lý cũng như tại luật phố biến và giáo dục pháp luật quy định thì có sau đối tượng đặc thù cần quan tâm tới trong quá trình thực hiện phô biến, giáo dục pháp luật đó là: đồng bào dân tộc thiểu số; vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo, vùng ven biển và hải đảo cần có những cơ chế, chính sách và cách thức phổ biến, giáo dục đặc thù dé phù hợp đối với từng dân tộc, lứa tuổi, phong tục, tập quán của khách thé phổ biến, GDPL. Do đó, khi tiến hành phô biến, giáo dục pháp luật, ngoài những đặc điểm chung các cơ quan, tổ chức và cán bộ làm công tác phô biến, GDPL cần phải chú trọng tới điều kiện và đặc điểm riêng có của từng đối tượng và địa bàn của người DTTS, cụ thé như sau: - Khách thé của phổ biến, giáo dục pháp luật là đồng bào các dân tộc thiểu số, bao gồm các tầng lớp, lứa tuôi và trình độ dân trí khác nhau, mỗi dân tộc thiểu số lại có những phong tục, tập quán va tín ngưỡng riêng: hiện nay trên thực tế thi trình độ dân trí của đồng bào dan tộc thiểu số có mặt bằng chưa cao, họ có tâm lý tự ti và cũng có phần bảo thủ đo truyền thống văn hóa, địa phương của mỗi dân tộc và nơi cu trú, một số dân tộc thiêu số hiện nay cón có chưa có chữ viết riêng, chưa biết chữ và tiếng phô thông. đó là những yếu tố cản trở và khó khăn cho quá trình thực hiện công tác phô biến, giáo dục pháp luật cho đồng bao dé họ có thé dé dàng tiếp thu những nội dung và kiến thức pháp luật; bên cạnh đó việc ý thức tự giác tìm hiểu về pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số là chưa cao, các quan hệ trong cộng đồng vẫn chịu sự điều chỉnh của các phong tục tập quán; chưa hiểu được pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của họ. Trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số, để điều chỉnh các mối quan hệ và sinh hoạt của đồng bào thì song song với hệ thống pháp luật của nhà nước còn tồn tại những truyền thống, văn hóa và phong tục, tập quán đã được truyền từ đời nay qua đời khác.
Do đó, để quản lý nhà nước có hiệu lực va hiệu qua đối với đồng bào dân tộc thiểu số, trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách đảng và nhà nước cần phải vận dụng linh hoạt hay thừa nhận những phong tục tập quán có tính tích cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu, vi phạm tới quyền và lợi ích chính đáng của công dân là đồng bào dân tộc thiểu số. Chính vì vậy mục đích của công tác PBGDPL cho đồng bào các DTTS không chỉ góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật ở họ, mà còn phải giải thịch cho họ hiểu được những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước là để phục vụ quyền và lợi ích chính đáng của họ, dé họ hiểu và tự ý thức tuân theo. - Chủ thể của phố biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số là người tuyên truyền, chỉ dẫn và giải thích pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiêu số nói riêng và nhân dân nói chung, đó là các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có thầm quyền và được nhà nước trao quyền, (các thầy cô giáo, cán bộ chuyên trách, báo cáo và tuyên truyền viên, các hội và tổ chức nghé nghiệp.); bên cạnh đó cũng có những chủ thể khác là các cơ quan tô chức, xã hội và công dân không chuyên cũng có thê tham gia vào quá trình phố biến, giáo dục pháp luật; đó là những cá nhân, tổ chức mà chức năng, nhiệm vụ chính của họ không phải là phố biến, GDPL nhưng thông qua hoạt động của mình có thê truyền tải nội dung và những quy định của pháp luật tới khách thể của PBGDPL, thông qua những hoạt động của họ có thê thác động đến tâm tư, tình cảm, thái độ và ý thức tuân thủ pháp luật trong đồng bào dân tộc thiệu số và trong nhân dân. Đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiểu số Đặc trưng tâm lý dân tộc là những sắc thái dân tộc độc đáo thé hiện trong cách suy nghĩ, cách hành động của một cộng đồng dân cư.
Những nét tâm lý xã hội, những thói quen sống, kinh nghiệm sản xuất, truyền thống văn hóa được hình thành dưới ảnh hưởng những điều kiện sống trải dài theo dòng lịch sử và được thê hiện trong nếp sống văn hoá và sinh hoạt của các dân tộc. Tâm lý người dân vùng đồng bào dân tộc, đặc biệt là phụ nữ thường hay tự ti, bao thu, gồm cả tư tưởng cục bộ 10 dân tộc, địa phương chủ nghĩa, các cộng đồng, các cụm dân cư, các dòng họ có phong tục tập quán riêng biệt. Bên cạnh đó vẫn còn có những hủ tục nặng nề, lạc hậu như thách cưới, tang ma, tảo hôn. khi phổ biến, GDPL phải chú ý và thận trọng; có phê phán đối với những hủ tục lạc hậu nhưng phải hết sức khéo léo, tế nhị.