Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã. Chương 2: Giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã ở thành phố Hà Nội hiện nay. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã hiện nay. 10 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm và đặc điểm công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức cấp xã Cấp xã là một cấp hành chính ở nƣớc ta. Theo Hiến pháp năm 2013, các đơn vị hành chính của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc phân định nhƣ sau: Nƣớc chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc Trung ƣơng chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tƣơng đƣơng; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phƣờng và xã; quận chia thành phƣờng (Điều 110, Hiến pháp 2013).
Nhƣ vậy, cấp xã bao gồm xã, phƣờng, thị trấn. Chính quyền ở cấp xã gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đƣợc tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định; tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phƣơng; quyết định các vấn đề của địa phƣơng do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nƣớc cấp trên. Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phƣơng bầu ra, chịu trách nhiệm trƣớc Nhân dân địa phƣơng và cơ quan nhà nƣớc cấp trên. Uỷ ban nhân dân ở cấp xã do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng, chịu trách nhiệm trƣớc Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên.
Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở 11 Luan van địa phƣơng; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nƣớc cấp trên giao. Để thực hiện thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp xã, nhân sự sẽ đƣợc thiết lập ở Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, gồm các cán bộ, công chức và nhân viên, ngƣời lao động khác. Về công chức cấp xã, theo Điều 4 Luật CBCC thì công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Họ khác với cán bộ cấp xã.
Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội. Điều 61, khoản 3 Luật CBCC 2008 xác định những ngƣời là công chức cấp xã, gồm: Trƣởng Công an, Chỉ huy quân sự, Văn phòng thống kê, Địa chính xây dựng - Đô thị và Môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Đô thị và Môi trƣờng (đối với Kinh tế - Tài chính - Kế toán, Tƣ pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội). Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 về chức danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phƣờng, thị trấn chỉ rõ: công chức cấp xã gồm 7 chức danh: Trƣởng Công an; Chỉ huy trƣởng Quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tƣ pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội.
Số lƣợng công chức cấp xã đƣợc bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể nhƣ sau: Cấp xã loại 1: không quá 25 ngƣời; Cấp xã loại 2: không quá 23 ngƣời; Cấp xã loại 3: không quá 21 ngƣời. Nhƣ vậy, ở chính quyền cấp xã, công chức chỉ có đối với các chức danh 12 Luan van chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, tức chỉ có công chức hành chính. Đây là điểm khác biệt trong tổ chức cán bộ công chức giữa cấp xã với các cấp khác trong bộ máy nhà nƣớc, hệ thống chính trị ở nƣớc ta. Từ những nội dung phân tích trên có thế đƣa ra khái niệm công chức cấp xã nhƣ sau: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại UBND cấp xã, được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn theo quy định của pháp luật gắn với từng vị trí việc làm được xác định cụ thể về số lượng, tên gọi, chức năng hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ của tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã.
Đặc điểm công chức cấp xã Thứ nhất, công chức cấp xã đƣợc tổ chức thành một để thực hiện nhiệm vụ của chính quyền cấp xã. công chức cấp xã gồm các cá nhân đáp ứng các yêu cầu về học vấn, chuyên môn, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, chính trị, sức khỏe; có mối quan hệ với nhau trong công tác để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân. Do vậy, việc đánh giá đối với công chức cấp xã cần chú ý tới tính “ ”, tức là sự đồng bộ trong tổ chức và hoạt động của công chức cấp xã. Thứ hai, hoạt động của công chức cấp xã là hoạt động chấp hành, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc, góp phần làm cho hoạt động QLNN nói chung có hiệu lực, hiệu quả.
Đây là điểm khác biệt giữa công chức cấp xã với cán bộ trong các cơ quan dân cử (HĐND), đoàn thể chính trị - xã hội) ở cấp xã. Thứ ba, công chức cấp xã hoạt động liên tục, ổn định, thƣờng xuyên, giải quyết các công việc hàng ngày ở cấp xã; là ngƣời trực tiếp làm việc với dân, sát dân nhất. Vì vậy, công chức xã có một vị trí, vai trò quan trọng mang tính đặc thù. Do đó, cần có những tiêu chí, phƣơng pháp đánh giá riêng đối với công chức cấp xã.
13 Luan van Thứ tư, do tính chất công việc, nhu cầu sử dụng, và khả năng đáp ứng mà hiện nay so với công chức chính quyền Trung ƣơng và cấp chính quyền địa phƣơng khác thì tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã có tiêu chuẩn thấp hơn, và thực tế hiện nay, này còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, chƣa đạt chuẩn, nhất là đối với cấp xã ở vùng nông thôn, vùng núi, dân tộc thiểu số. Vì vậy trong quản lý hành chính nhà nƣớc, muốn nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã cần thay đổi phƣơng pháp quản lý, thay đổi cách nhìn nhận, xây dựng các tiêu chí và phƣơng pháp đánh giá đúng đối với này. Thứ năm, công chức cấp xã chủ yếu đƣợc tuyển dụng từ những ngƣời của địa phƣơng, do đó, một mặt họ am hiểu văn hóa, phong tục địa phƣơng nên họ dễ gần dân và dễ nắm bắt đƣợc mọi thay đổi, biến động trong quần chúng; mặt khác, công chức cấp xã thƣờng có xu hƣớng cục bộ địa phƣơng, sẵn sàng bảo vệ lợi ích nhóm mà mình đại diện, nhƣ lợi ích dòng họ, lợi ích tộc ngƣời, thôn cƣ trú. vì vậy, việc chia rẽ đoàn kết nội bộ ở cơ sở theo nhóm quyền lực, hay hiện tƣợng bè phái trong công chức ở mỗi xã thƣờng xảy ra ở nhiều địa phƣơng; tâm lý “một ngƣời làm quan cả họ đƣợc nhờ” hay hiện tƣợng mà dƣ luận xã hội vẫn đề cập “ngƣời quan họ làm quan theo họ” vẫn diễn ra phổ biến.
Thứ sáu, khác với công chức nhà nƣớc ở các cấp khác, công chức cấp xã đều hội tụ đủ những đặc điểm, đặc trƣng cho các vai trò khác nhau mà họ phải thể hiện nhƣ: Công dân, ngƣời đồng hƣơng, bà con, họ hàng, ngƣời đại diện cho cộng đồng, cho Nhà nƣớc…Các vai trò này của công chức cấp xã có tính thống nhất và mâu thuẫn, trong mỗi điều kiện, hoàn cảnh riêng, chi phối các hoạt động công vụ của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân – cộng đồng – nhà nƣớc. Tất cả các đặc điểm trên của công chức cấp xã có ảnh hƣởng và chi 14 Luan van phối đến năng lực thực thi công vụ, đến chất lƣợng và hiệu quả công việc. Vì vậy, khi thực hiện nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã, cần quan tâm đến những đặc điểm này. Vai trò của công chức cấp xã Có thể nói, công chức nói chung, công chức chính quyền cấp xã nói riêng đóng vai trò quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động QLNN của bất kỳ quốc gia nào.
Hoạt động QLHC là hoạt động chấp hành và điều hành tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực, mọi quan hệ xã hội, hoạt động này là biện pháp chủ yếu, quan trọng nhất để thực thi pháp luật, đảm bảo cho pháp luật của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện trên thực tế. Hoạt động của mỗi công chức chính quyền cấp xã và công chức chính quyền cấp xã liên quan trực tiếp đến chất lƣợng, hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan QLHC, ảnh hƣởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả bộ máy QLHCNN. Từ những phân tích trên có thể thấy vai trò của công chức chính quyền cấp xã thể hiện cụ thể dƣới góc độ sau: Thứ nhất, công chức cấp xã là lực lƣợng trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc và cung ứng các dịch vụ công cho xã hội, công dân. Do vậy, họ là ngƣời có vai trò quyết định trong việc đƣa pháp luật, chính sách từ trên giấy vào cuộc sống.
Thứ hai, công chức cấp xã là cầu nối trong mối quan hệ giữa nhân dân địa phƣơng với cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng. Mọi nhu cầu, tâm tƣ nguyện vọng của nhân dân địa phƣơng ở cơ sở đƣợc phản ánh thông qua những yêu cầu, đề xuất, kiến nghị và quá trình thực hiện quyền trong lĩnh vực hành chính chính trị của họ với công chức cấp xã.