CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN 1.1 Khái niệm, mục đích, nguyên tắc, đặc điểm, vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên 1.1 Khái niệm thanh niên Việt Nam là một trong những quốc gia có dân số trẻ. Thanh niên so với tổng dân số chiếm tỷ lệ cao, nếu như có thể giáo dục, bồi dưỡng, dạy dỗ tốt thì sẽ trở thành những người có ích cho Tổ quốc. Hiện nay, nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau về thanh niên tùy theo quan điểm của mỗi người, các góc độ để đánh giá. Thanh niên là khái niệm dùng để chỉ một lớp người trong xã hội ở một độ tuổi xác định, đang phát triển về cả thể chất, tinh thần và tư duy, lý tưởng.
Thanh niên không phải là một giai cấp nhưng bị chi phối bởi những mối quan hệ giai cấp, quan hệ xã hội, lối sống của cộng đồng trong xã hội. Bởi vậy, thanh niên đóng vai trò không nhỏ trong xã hội. Thanh niên là nguồn nhân lực có vai trò to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, là một trong những yếu tố chủ chốt đối với tương lai của cả quốc gia, lực lượng này phải trải qua nhiều gian nan, vất vả về cả vật chất và tinh thần đóng góp một phần không nhỏ đối với vận mệnh đất nước. Thanh niên là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong mọi mặt của đời sống hằng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học, có nhiều quan niệm khác nhau về thanh niên.
Dưới góc độ sinh học thì các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn trong quá trình phát triển của cơ thể, vì trong giai đoạn này, về mặt thể lực, trí tuệ, sinh lý đều có sự thay đổi rõ rệt. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất. 7 Thanh niên là giai đoạn chuyển từ ý thức, tư duy theo khuynh hướng lệ thuộc vào gia đình, nhà trường và xã hội, sang giai đoạn tự ý thức, nhận thức được về thái độ, hành vi, tư tưởng. Thanh niên dưới góc độ kinh tế học là nguồn nhân lực không thể thiếu trong đội ngũ lao động và sản xuất.
Bên cạnh đó, thanh niên cũng là bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng sản xuất, sự năng động, nhạy bén, ham học hỏi, sáng tạo, gắn bó mật thiết với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Dưới góc độ luật học, Luật Thanh niên tại Điều 1 quy định “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [31, tr. Theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 thì phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật. Theo quan niệm quốc tế thì thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi.
Như vậy, khái niệm thanh niên dùng để chỉ một lớp người trong xã hội với độ tuổi từ đủ 16 đến 30 tuổi, đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp về nhận thức cũng như tư duy, là lực lượng có vai trò không thể thiếu đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh.trong đời sống xã hội.2 Khái niệm, mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997) thì "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó” [41, tr. 3] Phổ biến pháp luật vừa mang ý nghĩa xã hội, vừa mang ý nghĩa nhân văn, pháp luật ban hành phải được phổ biến công khai đến tất cả các đối tượng mới đem lại hiệu quả cao. Ngoài ra, phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho những đối tượng cụ thể để hiểu rõ các quy định của pháp luật, từ đó thực hiện đúng pháp luật. Trong thực 8 tiễn, thông qua các buổi tọa đàm, tập huấn, các cuộc hội thảo có lồng ghếp phổ biến pháp luật.
Theo Từ điển từ và ngữ Hán – Việt "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội" [36, tr. 3] Theo Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ Phổ biến giáo dục pháp luật thì: “Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị.) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng” [34, tr. 7] Phổ biến và giáo dục pháp luật đều nhằm nâng cao nhận thức của người dân, tuy nhiên, giáo dục pháp luật có nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, có đối tượng xác định. Khái niệm giáo dục pháp luật được các tác giả thống nhất trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta như sau: Giáo dục pháp luật là một hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống nhằm hình thành ở họ một cách bền vững tri thức pháp lý, ý thức pháp luật, tình cảm, niềm tin và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành, xây dựng lối sống theo pháp luật.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu Phổ biến, giáo dục pháp luật theo nghĩa rộng là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật, đó là xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật; triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng các hình thức, 9 biện pháp phổ biến giáo dục pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật. Nghĩa hẹp của Phổ biến, giáo dục pháp luật là: chuyển tải nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đến đối tượng cần tác động nhằm giúp họ hiểu và làm theo pháp luật, dần hình thành ở họ ý thức và tư duy pháp luật, có thái độ, hành vi đúng pháp luật. * Mục đích của việc PBGDPL cho thanh niên Mọi hình thức phổ biến, giáo dục một khi được áp dụng đều vì mục đích nâng cao ý thức, trách nhiệm của công dân. Sống trong một xã hội có trật tự kỷ cương, việc PBGDPL trang bị cho mỗi cá nhân không chỉ về tri thức chuyên môn mà còn bồi dưỡng tình cảm, thái độ, hành vi ứng xử.
Xác định mục đích PBGDPL có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn. Trước hết, là nâng cao hiểu biết pháp luật cho thanh niên, đây được coi là mục đích đầu tiên, không thể thiếu trong PBGDPL. Thanh niên đa phần có sự nhận thức về xã hội chưa nhiều, bên cạnh đó pháp luật không phải lúc nào cũng được mọi người biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và chấp hành nghiêm chỉnh. Muốn pháp luật đi vào thực tiễn thì các quy định của pháp luật phải được dân biết đến, dân hiểu, có như vậy thì bản chất của pháp luật mới thể hiện rõ.
Việc quan tâm, tìm hiểu, nắm bắt hay nghiên cứu về pháp luật của nhân dân đa số chỉ xuất phát từ nhu cầu phục vụ trực tiếp cho công việc, nhưng những đối tượng này số lượng chưa nhiều.Với trình độ dân trí còn chưa cao ở nước ta, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn thì việc tiếp cận với pháp luật của đông đảo quần chúng nhân dân còn nhiều hạn chế. PBGDPL chính là phương tiện truyền tải những nội dung, quy định, những đổi mới của pháp luật cho người dân biết, từ đó nắm bắt kịp thời và chấp hành nghiêm chỉnh, tiết kiệm thời gian và công sức cho việc tự tìm hiểu cũng như nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân. 10 Hai là, PBGDPL hình thành lòng tin vào pháp luật của thanh niên. Pháp luật không thể có ý nghĩa thực tiễn khi nhân dân không tin tưởng vào những quy định được ban hành, chỉ khi họ tin tưởng, họ mới nghiêm chỉnh thực hiện.
Việc xây dựng pháp luật là để bảo vệ cho lợi ích của nhân dân, của cộng đồng, bảo đảm công bằng, dân chủ, văn minh. Để tạo niềm tin cho người dân cần kết hợp nhiều yếu tố, trong đó PBGDPL là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng nhằm giúp nhân dân hiểu biết pháp luật, quy trình áp dụng pháp luật, những khó khăn khi thực hiện pháp luật cũng như những ưu điểm, hạn chế trong việc xây dựng pháp luật. Thiếu lòng tin đối với pháp luật có thể khiến hành vi của con người lệch khỏi chuẩn mực pháp luật, trong khi đó, pháp luật không phải lúc nào cũng thỏa mãn lợi ích của tất cả mọi người, vì vậy chính những hạn chế trong các quy định của pháp luật càng tạo nên sự cần thiết của PBGDPL để mọi người hiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ pháp luật. Có như vậy mới tạo niềm tin đối với pháp luật của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội.
Ba là, hình thành ở đối tượng thái độ, cách cư xử, hành vi xử sự theo pháp luật. Tóm lại, mọi kết quả của PBGDPL đều phải được thể hiện ở hành vi ứng xử của mỗi cá nhân, là nền tảng cơ bản hình thành nhân cách của con người. Bốn là, hình thành nên ý thức pháp luật cơ bản và bền chặt đối với toàn dân. PBGDPL bao gồm tuyên truyền các quy định của pháp luật đang có hiệu lực, ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật, đồng thời lên án các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật, tạo tâm lý đồng tình, ủng hộ trong nhân dân.
Cần thực hiện PBGDPL cho nhân dân thường xuyên, kịp thời, chặt chẽ, rộng rãi, có như vậy mới nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân. Ngoài ra, PBGDPL nâng cao còn sự hiểu biết của con người đối với các quy định pháp luật, các hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống hằng ngày, từ đó góp phần nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân. 11 Giữa các mục đích đều có quan hệ qua lại thống nhất chặt chẽ, tác động lẫn nhau.