Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Công tác này đòi hỏi ứng dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học như: Luật học, Tâm lý học, Xã hội học… Những năm gần đây, một số cơ quan quản lý, nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục nói riêng. Quản lý giáo dục pháp luật trong nhà trường phổ thông là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Đây là vấn đề đã và đang được cả xã hội quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố, như: "Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước hiện nay", Luật án tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1996 ; "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ tư pháp, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Luận án tiến sĩ Luật học của Đinh Xuân Thảo, (1996); "Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay", Vụ Phổ biến Giáo dục pháp luật (1997), Nxb Thanh niên, Hà Nội, Bộ Tư pháp có Bộ tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ công tác phổ biến giáo dục pháp luật… e 8 - Về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung: Do truyền thống văn hoá cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam có những nét đặc thù nên phổ biến, giáo dục pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và đã được quan tâm nghiên cứu mà tiêu biểu là các Luận án Phó tiến sỹ luật học của Nguyễn Đình Lộc (nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp), Trần Ngọc Đường (nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội). Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan giúp Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cũng tổ chức nghiên cứu, xuất bản một số công trình như: “Một số vấn đề về phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay”…. - Về phổ biến, giáo dục pháp luật của ngành giáo dục: Đặng Thị Thu Huyền và nhóm nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu Đề tài cấp Bộ “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” Mã số B2009-37-09-NV; Nguyễn Đình Đặng Lục đã tập trung nghiên cứu vấn đề “phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” thể hiện ở Luận án Tiến sỹ Luật học của mình;.
Đinh Xuân Thảo cũng bảo vệ thành công Luận án Tiến sỹ Luật học về vấn đề “giáo dục pháp luật ở các trường đại học, cao đẳng không chuyên luật”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số 2000-58-139 của Bộ Tư pháp đã tập trung vào vấn đề “Giáo viêngiảng dạy giáo dục công dân”. Để quản lý, chỉ đạo thực tiễn, Vụ Pháp chế Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Bộ Tư pháp biên soạn cuốn “Cẩm nang công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”, đồng thời chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường”… Bên cạnh các công trình nêu trên, nhiều luận văn thạc sỹ, nhiều bài báo e 9 về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được công bố trên tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Giáo dục… của nhiều tác giả khác nhau. Nhìn chung, các công trình này đã đề cập đến hai nhóm vấn đề: - Các vấn đề có tính lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung - Các vấn đề cụ thể về một số khía cạnh của hoạt động giáo dục pháp luật như: Giáo dục pháp luật ở trường không chuyên luật; vấn đề đội ngũ giáo viên giáo dục công dân; vấn đề giáo dục pháp luật cho một số đối tượng cụ thể; vấn đề giáo dục pháp luật ở một số lĩnh vực pháp luật khác nhau; một số kỹ năng thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật … Tuy nhiên, việc nghiên cứu trước đây chưa có sự phối hợp, gắn kết có hiệu quả giữa các chuyên gia pháp luật và các chuyên gia về giáo dục.
Về nội dung, các nghiên cứu và các đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật cũng chỉ tập trung giải quyết một số vấn đề cụ thể, bức xúc trong từng giai đoạn như giảm thiểu tình trạng học sinh vi phạm an toàn giao thông, hút chích ma túy, hay tình trạng bạo lực học đường … Nhìn chung, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận sự cần thiết phải quan tâm đến công tác GDPL cho công dân nói chung, học sinh phổ thông nói riêng; còn các công trình, đề tài nghiên cứu nêu các nội dung, biện pháp, hình thức tổ chức GDPL để áp dụng trong các trường THCS thì chưa được quan tâm nghiên cứu một cách cụ thể, đầy đủ để có thể thực hiện có hiệu quả cao, đặc biệt là để có thể áp dụng phù hợp trong các trường THCS ở địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu các biện pháp của nhà trường để GDPL cho học sinh các trường THCS ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai nhằm đổi mới, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các biện pháp GDPL cho học sinh trong nhà trường cho phù hợp với điều kiện hiện nay của thị xã An Khê nói riêng cũng như của đất nước ta nói chung. Một số khái niệm cơ bản sử dụng để nghiên cứu đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1.Khái niệm về quản lý Quản lý là một loại hình hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Theo tác giả Trần Kiểm, “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Như vậy, quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ không đồng cấp và có tính bắt buộc. Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan, có khả năng thích nghi giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và ngược lại. Quản lý giáo dục Quản lý và giáo dục tồn tại song hành với nhau.
Với tư cách là hệ lớn, phức tạp, hệ thống giáo dục cần có sự quản lý một các khoa học. Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý giáo dục có hai cấp độ: cấp vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục) và cấp vi mô (quản lý nhà trường). Theo đó: “Cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội (tính trội của hệ thống) sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động” [9; tr 10]. “Ở cấp vi mô: quản lý giáo dục đồng nghĩa với khái niệm quản lý nhà trường: quản lý giáo dục (ở cấp vi mô) được hiểu là hệ thống những tác động e 11 tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [9; tr 12].
Qua các định nghĩa trên chúng tôi thấy, quản lý giáo dục dù ở cấp vĩ mô hay cấp vi mô cũng đều có những nét bản chất tương đồng với nhau. Chúng chỉ khác nhau về phạm vi của đối tượng quản lý. Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về quản lý giáo dục của tác giả Trần Kiểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Khái niệm quản lý giáo dục ở đây được hiểu là quản lý giáo dục ở cấp vi mô – quản lý nhà trường 1.
Pháp luật , pháp luật xã hội chủ nghĩa “Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thứa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, là yếu tố đảm bảo sự ổn định và trật tự của xã hội. “ Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống những quy tắc xử sự chung do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và được đảm bảo thực hiện bằng bộ máy nhà nước và phương thức tác động của nhà nước, trên cơ sở giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của nhà nước nhằm xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa” [8; tr 162]. Giáo dục pháp luật Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm "giáo dục pháp luật" - Quan niệm thứ nhất, cho rằng: pháp luật là qui tắc xử sự có tính bắt buộc chung. Mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, do đó không cần đặt ra vấn đề giáo dục pháp luật.
- Quan niệm thứ hai, tồn tại lâu dài ở nước ta coi giáo dục pháp luật e 12 chỉ là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức. - Quan niệm thứ ba, coi giáo dục pháp luật đồng nhất với tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật.