Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, việc nâng cao năng lực ngoại ngữ cho thế hệ trẻ là yêu cầu chiến lược hàng đầu. Tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, ngành giáo dục đã triển khai chương trình tiếng Anh 10 năm tới 65% số lớp bậc trung học cơ sở, tương đương 250 trên tổng số 385 lớp học, trong đó 100% học sinh khối 6 được tiếp cận chương trình mới. Tuy nhiên, dù tỷ lệ học sinh xếp loại giỏi toàn diện bộ môn đạt 14,6%, năng lực giao tiếp thực tế của các em vẫn còn nhiều hạn chế, đặt ra thách thức lớn cho đội ngũ 90 giáo viên tiếng Anh trên địa bàn.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ công tác quản lý hoạt động dạy học tại các nhà trường còn nặng tính hành chính, chậm đổi mới phương pháp theo đường hướng giao tiếp và thiếu đồng bộ trong kiểm tra đánh giá. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Tạ Quang Thảo tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, tập trung giải quyết bài toán này. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát thực trạng toàn diện và đề xuất hệ thống biện pháp quản lý dạy học tiếng Anh đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo Nghị quyết số 29-NQ/TW.

Nghiên cứu được triển khai tại 27 trường có bậc trung học cơ sở trên địa bàn huyện Hiệp Hòa trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 4 năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho 15.295 học sinh trung học cơ sở, hướng tới mục tiêu 100% học sinh đạt chuẩn đầu ra Bậc 2 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại gắn liền với 4 chức năng cốt lõi: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo điều hành và kiểm tra đánh giá theo quan điểm của các nhà khoa học giáo dục hàng đầu như Henri Fayol, Trần Kiểm và Nguyễn Ngọc Quang. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết dạy học lấy người học làm trung tâm của John Dewey và Đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp (Communicative Language Teaching) được phát triển bởi Jack C. Richards và David Nunan.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa bao gồm: hoạt động dạy học tiếng Anh, quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực, và đổi mới giáo dục theo định hướng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT và Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017-2025, mục tiêu dạy học tiếng Anh trung học cơ sở là giúp học sinh đạt Bậc 2, đồng thời giáo viên phải đạt chuẩn tối thiểu Bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập thông qua khảo sát thực địa kết hợp nghiên cứu hồ sơ chuyên môn tại 27 trường trung học cơ sở và trường tiểu học & trung học cơ sở trên địa bàn huyện Hiệp Hòa. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 52 cán bộ quản lý thuộc Ban giám hiệu, 54 tổ trưởng chuyên môn và giáo viên trực tiếp giảng dạy tiếng Anh, cùng 540 học sinh thuộc các khối lớp đang học chương trình mới.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng tại 2 trường hạng I, 18 trường hạng II và 7 trường hạng III, bảo đảm chọn ra 20 học sinh đại diện cho mỗi trường. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học, tính điểm trung bình theo thang đo 4 mức độ từ 0 đến 3 điểm và tính hệ số tương quan thứ bậc Spearman. Việc lựa chọn phương pháp phân tích này nhằm lượng hóa chính xác mức độ nhận thức, đánh giá thực trạng các kỹ năng ngôn ngữ và kiểm định độ tương thích khoa học giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được thực hiện nghiêm ngặt từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 3 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về việc dạy học và quản lý môn tiếng Anh tại huyện Hiệp Hòa:

Thứ nhất, tồn tại sự phân hóa về chương trình và áp lực quy mô lớp học. Toàn huyện có 250 lớp (chiếm 65%) học chương trình 10 năm, nhưng vẫn còn 135 lớp (chiếm 35%) học chương trình 7 năm. Sĩ số bình quân lên tới 39,7 học sinh mỗi lớp, tạo áp lực rất lớn cho việc tổ chức các hoạt động luyện tập tương tác theo cặp, nhóm.

Thứ hai, có khoảng cách đáng kể giữa kết quả học bạ và kỹ năng giao tiếp thực tế. Báo cáo năm học 2018-2019 ghi nhận 14,6% học sinh xếp loại giỏi và 39% khá (tổng tỷ lệ khá giỏi là 53,6%), chỉ có 5,4% học sinh xếp loại yếu và 0,1% loại kém. Tuy nhiên, kết quả khảo sát 540 học sinh cho thấy kỹ năng nghe chỉ đạt điểm trung bình 0,67 (mức đánh giá thấp, chỉ 16,66% học sinh tự tin) và kỹ năng nói chỉ đạt điểm trung bình 0,57 (mức rất thấp, chỉ 12,96% đạt khá giỏi). Hơn 50% học sinh thừa nhận chưa đạt yêu cầu về phản xạ nghe nói.

Thứ ba, cơ cấu và năng lực đội ngũ giáo viên có sự chênh lệch về kỹ năng bổ trợ. Trong tổng số 90 giáo viên tiếng Anh, có 84,4% là nữ, 98% đạt chuẩn năng lực ngôn ngữ Bậc 4 theo khung 6 bậc, nhưng mới chỉ có 53% (48 giáo viên) sở hữu chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản.

Thứ tư, công tác kiểm tra, đánh giá của cán bộ quản lý còn thiên về hồ sơ sổ sách, tỷ lệ kiểm tra định kỳ có tích hợp bài thi nói trực tiếp chỉ chiếm khoảng 20% đến 30% tại các đơn vị.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng kỹ năng giao tiếp yếu kém bắt nguồn từ thói quen kiểm tra viết trên giấy nhằm phục vụ các kỳ thi chuyển cấp, dẫn đến việc dạy học thiên về ngữ pháp và từ vựng thay vì rèn luyện ngữ âm. Bên cạnh đó, các trường khu vực nông thôn còn thiếu phòng học bộ môn đa phương tiện.

Khi trình bày trên biểu đồ tương quan phân tán, khoảng cách giữa điểm trung bình kiến thức ngôn ngữ (1,41 điểm) và kỹ năng nói (0,57 điểm) phản ánh rõ nét sự lệch pha này. Dữ liệu khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi qua hệ số Spearman cũng chứng minh rằng cán bộ quản lý và giáo viên đều có sự đồng thuận rất cao về nhu cầu cấp bách phải chuyển đổi từ phương pháp ngữ pháp dịch sang đường hướng giao tiếp. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu giáo dục tại các huyện nông thôn vùng trung du Bắc Bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Để tạo chuyển biến đột phá, tác giả đề xuất 5 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ:

Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng năng lực giảng dạy giao tiếp cho 100% cán bộ quản lý và 90 giáo viên tiếng Anh toàn huyện. Mục tiêu đến năm 2022 có 100% giáo viên sử dụng thành thạo phương pháp tích cực hóa hoạt động người học, do Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Trường Đại học Sư phạm tổ chức định kỳ hàng năm.

Chuẩn hóa công tác xây dựng kế hoạch dạy học bộ môn theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực. Ban giám hiệu chỉ đạo 100% tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch tích hợp liên môn và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học trước ngày 30 tháng 8 hàng năm.

Tăng cường đầu tư và quản lý cơ sở vật chất, thiết bị công nghệ thông tin. Phấn đấu 100% trường có phòng học ngoại ngữ chuyên dụng với đầy đủ máy chiếu, loa trợ giảng và đường truyền Internet, nâng tỷ lệ giáo viên ứng dụng thành thạo phần mềm giảng dạy từ 53% lên 95% trước năm 2023 dưới sự điều hành của Hiệu trưởng.

Đổi mới công tác chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực. Ban giám hiệu yêu cầu đưa nội dung kiểm tra kỹ năng nói và thuyết trình chiếm tối thiểu 20% tổng điểm trong các bài kiểm tra định kỳ tại 27 trường THCS từ năm học 2020-2021.

Tổ chức đa dạng hóa các hoạt động trải nghiệm và câu lạc bộ tiếng Anh. Chỉ đạo 27 trường duy trì sinh hoạt câu lạc bộ tối thiểu 2 tuần một lần và tổ chức ngày hội nói tiếng Anh cấp trường mỗi năm 2 lần do Đoàn, Đội và giáo viên bộ môn phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng:

Cán bộ quản lý tại các Sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo: Cung cấp khung căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho hơn 700 cán bộ, giáo viên toàn huyện, đồng thời phân bổ ngân sách trang thiết bị dạy học ngoại ngữ theo chuẩn Chương trình GDPT 2018.

Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở: Vận dụng trực tiếp quy trình 4 chức năng quản lý dạy học tiếng Anh, giải quyết bài toán giảm tải áp lực sĩ số lớp học 39,7 học sinh và chuẩn hóa tiêu chí đánh giá giờ dạy giao tiếp.

Giáo viên giảng dạy môn Tiếng Anh: Tham khảo các kỹ thuật thiết kế bài giảng tích hợp 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, phương pháp xây dựng ma trận đề thi có kỹ năng nói và mô hình tổ chức câu lạc bộ ngoại ngữ sinh động.

Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý giáo dục: Kế thừa khung lý thuyết quản lý dạy học môn học đặc thù, cùng phương pháp luận khảo sát phân tầng trên cỡ mẫu 540 học sinh và 106 cán bộ, giáo viên để phát triển các đề tài liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Đâu là rào cản lớn nhất trong dạy học tiếng Anh tại các trường THCS huyện Hiệp Hòa? Rào cản lớn nhất là sự chênh lệch giữa điểm số trên học bạ và kỹ năng thực tế. Dù tỷ lệ học sinh khá giỏi đạt 53,6%, khảo sát 540 học sinh cho thấy điểm trung bình kỹ năng nói chỉ đạt 0,57/3,0 và kỹ năng nghe đạt 0,67/3,0 do sĩ số lớp đông tới 39,7 học sinh và thiếu môi trường tương tác.

Tại sao giáo viên đạt chuẩn 98% nhưng chất lượng giao tiếp của học sinh vẫn thấp? Nguyên nhân do 98% giáo viên đạt chuẩn Bậc 4 về kiến thức ngôn ngữ nhưng phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết để chuẩn bị cho các kỳ thi viết. Thêm vào đó, mới chỉ có 53% giáo viên có chứng chỉ tin học, dẫn đến việc ứng dụng học liệu số và công nghệ nghe nhìn còn hạn chế.

Chuẩn đầu ra môn Tiếng Anh cấp THCS được quy định như thế nào trong chương trình mới? Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 ban hành kèm Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, sau khi hoàn thành cấp THCS, học sinh phải đạt trình độ tiếng Anh Bậc 2 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, có khả năng giao tiếp cơ bản trong các tình huống đời sống thường nhật.

Luận văn đề xuất giải pháp cụ thể nào để cải thiện kỹ năng nghe và nói cho học sinh? Luận văn đề xuất bắt buộc đưa phần kiểm tra kỹ năng nói chiếm tỷ trọng từ 20% đến 30% trong các bài đánh giá định kỳ, kết hợp thành lập câu lạc bộ tiếng Anh tại 100% các trường với tần suất sinh hoạt 2 tuần một lần và tổ chức thi hùng biện định kỳ hàng năm.

Tính khả thi của 5 biện pháp quản lý được chứng minh như thế nào? Tính khả thi được kiểm chứng qua khảo sát 106 cán bộ quản lý và giáo viên chuyên môn. Kết quả xử lý toán thống kê với hệ số tương quan thứ bậc Spearman đạt giá trị đồng thuận cao, khẳng định các giải pháp hoàn toàn phù hợp với nguồn lực tài chính và điều kiện thực tiễn tại huyện Hiệp Hòa.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh đã giải quyết thành công bài toán lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý dạy học tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp, bám sát các tiêu chuẩn của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc.
  • Khảo sát toàn diện thực trạng tại 27 trường THCS huyện Hiệp Hòa với mẫu khảo sát 540 học sinh, 52 cán bộ quản lý và 54 giáo viên chuyên môn.
  • Chỉ rõ thực trạng kỹ năng nói của học sinh chỉ đạt điểm trung bình 0,57/3,0 dù 98% giáo viên đạt chuẩn Bậc 4, từ đó xác định chính xác nguyên nhân do phương pháp và cơ sở vật chất.
  • Đề xuất 5 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ từ nâng cao nhận thức, đổi mới kế hoạch, quản lý thiết bị, chỉ đạo chuyên môn đến tổ chức hoạt động trải nghiệm.
  • Kiểm định khoa học chứng minh mối tương quan thuận chiều giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp với lộ trình thực hiện đến năm 2025.

Các cơ sở giáo dục trung học cơ sở cần nhanh chóng tham khảo và áp dụng các biện pháp quản lý này nhằm tạo bước đột phá về chất lượng dạy học ngoại ngữ trong giai đoạn đổi mới hiện nay.