CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA VIỆC SỬ DỤNG HOC LIEU SO THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC DAO NGƯỢC NHẰM PHAT TRIEN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu vân đê 1. Nghiên cứu về năng lực tự học Chương trình giáo dục phổ thông (2018) đã xác định mục tiêu hình thành và phát triển cho HS các năng lực cốt lõi bao gồm năng lực chung và năng lực đặc thù. NLTH là một trong những năng lực chung cơ bản, thiết yếu ở mọi môn học, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp.
Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về việc phát triển năng lực cho học sinh. Năng lực tự học đã được tiếp cận và chú trọng nghiên cứu áp dụng trong thời gian gần đây như: Vũ Mạnh Dũng (2015) Phát triển NLTH cho học sinh thông qua dạy học chương Sự điện li — Hóa học 11 (chương trình cơ bản) [6], Lê Thị Thúy Ha (2015) Phát triển NLTH cho học sinh thông qua dạy học chương kim loại kiểm — kim loại kiểm thổ - nhôm Hóa học lớp 12 THPT [11], Tô Thị Minh Hiền (2017) Phát triển NLTH cho học sinh thông qua sử dụng bài tập Chương Kim loại kiểm, Kim loại kiềm thổ, Nhôm Hóa học lớp 12 [12].Trong các công trình này, các tác giả cũng đã phân tích được ý nghĩa của việc tự học, đưa ra cau trúc va biéu hiện của NLTH, xay dựng công cụ đánh giá của HS theo mỗi biện pháp cụ thé. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phát triển năng lực tự học ở trên là theo chương trình hóa học 2006. Các công trình nghiên cứu trong chương “Nitrogen va Sulfur”- Hoá học 11 chương trình 2018 là mới, còn ít công bố.
Do đó, đề tài nghiên cứu của chúng tôi là rất cần thiết, đáp ứng nhu cầu của GV và HS trong chương trình hoá học 2018. Nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngược Theo Brame (2013) [33], trong mô hình “Lớp học đảo ngược”, HS sẽ phải tự làm việc với bài giảng trước thông qua đọc tài liệu, tóm tắt tài liệu, nghe giảng thông qua các phương tiện hỗ trợ như băng hình, trình chiếu PowerPoint, và khai thác tài liệu trên mạng. Bài giảng trở thành bài tập ở nhà mà HS phải chuẩn bị trước khi lên lớp. Toàn bộ thời gian trên lớp sẽ dành cho các hoạt động giải bài tập, ứng dụng lí thuyết bài giảng vào giải quyết van dé, thảo luận nhóm dé xây dựng hiểu biết dưới sự hướng dẫn của GV; thay vì thuyết giảng, GV đóng vai trò là người điều tiết hỗ trợ, có thê giúp SV giải quyết những điều khó hiểu trong bài học mới.
Lớp học đảo ngược là một hình thức của học tập kết hợp (B-learning). Theo Lage và các tác giả [34; tr 32] “Đảo ngược lớp học có nghĩa là các sự kiện truyền thống diễn ra bên trong lớp học bây giờ diễn ra bên ngoài lớp học và ngược lại”. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về mô hình lớp học đảo ngược được nhiều người quan tâm. Nhiều tác giả đã nghiên cứu và đề xuất việc tổ chức hoạt động theo mô hình lớp học đảo ngược theo các cách tiếp cận khác nhau như: Pham Thị Bích Dao, Nguyễn Thị Thái , Nguyễn Thị Lan Anh, Ngô Hồng Đào (2022), “Vận dung mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học trực tuyến kết hợp trực tiếp trong môn Hóa hoc ở trường trung hoc pho thông ”[7], Mai Xuân Đào, Phan Đồng Châu Thủy (2020), “Xây dựng và sử dụng học liệu số theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển NLTH cho học sinh THPT ở Tân Uyên, tinh Bình Duong’ [8], Nguyễn Mậu Duc (2020), “Van dụng mô hình lớp hoc đảo ngược vào dạy học bài Oxi - Ozone (Hóa học 10) thông qua bài giảng E-learning ”[10], Lê Thị Phượng & Bùi Phương Anh (2017), “Dạy học theo mô hình LHDN nhằm phát triển NLTH cho học sinh” [19].
Cho đến nay, việc nghiên cứu về việc tuyển chọn và sử dụng học liệu số theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh còn chưa nhiều và còn khá mới, nhất là với môn Hóa học. Nghiên cứu về học liệu số Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Thông tư 21/2017/TT-BGDĐT (có hiệu lực ngày 23/10/2017) quy định ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động bồi dưỡng, tập huấn qua mạng Internet cho giáo viên, nhân viên và cán bộ quản lý giáo dục do Bộ Giáo dục va Đào tạo ban hành: “Hoc liệu số (hay học liệu số) là tập hợp các phương tiện số phục vụ dạy và học, bao gồm: Giáo trình số, sách giáo khoa số, tài liệu tham khảo số, bài kiểm tra đánh gid s0, bản trình chiếu, bảng đữ liệu, các tệp âm thanh, hình anh, video, bài giảng số, phan mém dạy học, thí nghiệm mô phỏng và các học liệu được số hóa khác ”. Trong quả trình học tập nói chung thì học liệu số có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của mỗi người học cho dù học với thầy hay tự học. Trong bối cảnh của cuộc cách mạng số hiện nay, cùng với phương thức học trực tuyến, học liệu số dần lấn at học liệu truyền thống với nhiều lợi thế như lợi thế về âm thanh, hình anh sinh động trực quan, về chia sẻ dé dàng rộng khắp, về lưu trữ, tìm kiếm, sắp xếp nhanh chóng tức thời và nhiều lợi thế khác.
Day là một tài liệu hết sức cần thiết góp phan phát trién NLTH cho HS trong thời đại ngày nay. Một số nghiên cứu của các tác giả về học liệu số và về sự phát triển NLTH như: Nguyễn Ngọc Nguyên (2010), “Thiét kế tài liệu tự học có hướng dan theo modun nhằm tăng cường NLTH cho học sinh giỏi hóa học lép 11 THPT”; Trịnh Lê Hong Phương (2011), “Xây dựng học liệu điện tử hỗ trợ day và học phan cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn các nguyên tô hóa học -chương trình THPT chuyên ”; Nguyễn Thị Nguyệt Minh (2012), 7ihiét ké tài liệu tự học có hướng dẫn môn hóa học lóp 10 chương trình cơ bản;. Nhìn chung, các nghiên cứu có thiết kế các tài liệu cho HS tự học trên file word, powerpoint hoặc thiết kế trên website rất đa dạng nhưng chưa chú ý nhiều đến việc sử dụng học liệu đó để hình thành và phát triển NL của HS. Kế thừa kết quả nghiên cứu của các đề tài, chúng tôi tập trung sưu tầm, xây dựng các video bài giảng, bài trình diễn, tài liệu đọc, các video thí nghiệm,.
trong dạy học chương “Nitrogen và Sulfur” - Hóa học 11 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh. Năng lực tự học 1. Khai niệm năng lực tự học NLTH là một trong những năng lực chung quan trọng cần được hình thành và phát triển cho học sinh HS thông qua hoạt động dạy học. Đề hiéu rõ NLTH ta cần làm rõ khái niệm tự học.
Cho đến nay có rất nhiều quan điểm về tự học đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập dưới nhiều góc độ và hình thức khác nhau: - Theo từ điển Giáo dục học: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo.” - Theo Nguyễn Hiến Lê, “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi dé hiểu biết thêm. Có thầy hay không ta không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nao tùy ý, muốn học lúc nao cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng” [14]. - Theo Nguyễn Cảnh Toàn: NLTH được hiểu là một thuộc tính kĩ năng rất phức hợp, bao gồm các kĩ năng và kĩ xảo, cần gắn với động cơ và thói quen tương ứng, giúp người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra [24].
NLTH còn là sự bao hàm cả cách học, kĩ năng và nội dung học tap, là sự tích hợp tong thé cách học và kĩ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống - vấn đề khác nhau [23]. NLTH là những thuộc tính tâm lí mà nhờ đó chúng ta giải quyết được các vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất, nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của riêng mình. NLTH giúp HS có khả năng học tập tự học suốt đời dé có thể tồn tại phát triển trong xã hội tri thức và hội nhập quốc tế. NLTH là một khái niệm trừu tượng nhưng với cách hiểu như trên về quá trình tự học, trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm NLTH với nội hàm như sau: “NLTH là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động, tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phan dau thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu qua; diéu chỉnh những sai sót, hạn chê cua bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiêm sự hô trợ khi gặp khó khăn trong học tập ”.
Biểu hiện và cấu trúc năng lực tự học Năng lực tự học là sự bao hàm cả cách học, kỹ năng học, và nội dung học. Dé đánh giá NLTH của HS THPT chúng ta cần biết cau trúc và biêu hiện của NLTH. Theo chương trình Giáo dục phổ thông tổng thé (ban hành ngày 26/12/2018), Bộ GD-ĐT đã đặt ra yêu cầu cần đạt về NLTH, tự hoàn thiện đối với phố thông như sau[2]: Nang lực Biéu hiện NLTH của HS THPT Năng lực | Xác định được nhiệm vụ hoc tập dựa trên kết quả đã đạt được; đặt tự học, tự | được mục tiêu học tập chi tiết, cụ thé, khắc phục những hạn chế. hoàn Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học thiện riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết.
Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập, suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm dé có thé vận dụng vào các tình huống khác, biết tự điều chỉnh cách học. Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phan dau cá nhân. Dé có thé đáp ứng được những yêu cau trên, GV ở các trường phổ thông cần vận dụng phương pháp day học phù hợp dé phát huy tối đa NLTH của HS.