Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chuyển đổi số ở các trường tiểu học. - Chương 2: Thực trạng quản lý chuyển đổi số ở các trường tiểu học của quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. - Chương 3: Biện pháp quản lý chuyển đổi số ở các trường tiểu học quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
- Kết luận và khuyến nghị. - Công trình khoa học được công bố. - Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Chuyển đổi số đang được các giới chuyên môn bàn luận liên tục trong thời gian qua. Theo Tech Republic - Tạp chí trực tuyến, cộng đồng xã hội dành cho các chuyên gia CNTT, khái niệm chuyển đổi số là “Cách sử dụng công nghệ để thực hiện lại quy trình sao cho hiệu quả hơn hoặc hiệu quả hơn. Microsoft lại cho rằng: “Chuyển đổi số là việc tư duy lại cách thức các tổ chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo những giá trị mới.
Nói cách khác, chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên công nghệ số. Công nghệ số, cho phép tính toán nhanh hơn, xử lý dữ liệu nhiều hơn, truyền tải dung lượng lớn hơn, với chi phí rẻ hơn nhưng mang lại dữ liệu lớn về trí tuệ nhân tạo, góp phần phát triển mọi hoạt động trong đó có GDĐT. Trên thế giới nhiều quốc gia đã và đang triển khai các chiến lược quốc gia về chuyển đổi số như tại Anh, Úc, Đan Mạch, Estonia…Nội dung chuyển đổi số rất rộng và đa dạng nhưng có chung một số nội dung chính gồm chính phủ số (như dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu mở), kinh tế số (như tài chính số, thương mại điện tử), xã hội số (như giáo dục, y tế, văn hóa) và chuyển đổi số trong các ngành trọng điểm (như nông nghiệp, du lịch, điện lực, giao thông). Một nhà khoa học người Mỹ Ông Claude Elwood Shannon cha đẻ của lý thuyết thông minh cho rằng “Lý thuyết thông tin của Shannon như là bản tổng kết về nhận thức và ứng dụng hệ nhị phân vào thực tiễn và là minh chứng đầy đủ nhất cho thuyết của G.
Leibniz về tính quy giản phổ quát của nhận thức, mở ra thời đại công nghệ thông tin thay đổi thế giới loài người”. Với Ông Nandasena Gotabaya Rajapaksa (Sri Lanka, Ấn Độ Dương) tuyên bố giai đoạn 2021-2030 là: “Thập kỷ phát triển kỹ năng”. Giáo dục và đào tạo kỹ thuật- nghề (TVET) sẽ đóng một vai trò quan trọng để hiện thực hóa “Thập kỷ phát triển kỹ năng”. Trong thực tiễn, việc chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở một số nước như: Bắc Mỹ ứng dụng e-learning để biến đổi mô hình học tập truyền thống.
Số lượng học sinh trong giáo dục truyền thống được dự đoán sẽ giảm 2 triệu trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2030 “E-learning” cũng được áp dụng trong đào tạo nghề: khoảng 10% các công ty sử dụng các khóa học trực tuyến mở rộng (MOOCs) để đào tạo nhân viên của họ nhằm nâng cao tiếp cận giáo dục nhờ công nghệ số, đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng số, và dự kiến sẽ tăng thêm 9 khoảng một phần ba vào năm 2030. Ai Cập, Hoa Kỳ sử dụng hệ thống quản lý học tập mã nguồn mở và miễn phí như Moodle (Modular Object-Oriented Dynamic Learning Environment.Trường Cao đẳng Du lịch Oman OTC đã sử dụng hệ thống Moodle làm hệ thống quản lý học tập bắt đầu vào năm 2014 với 20 khóa giáo dục đại học và 560 người dùng, năm 2017 đã tăng tên 122 khóa học, cung cấp cho tất cả sinh viên chương trình cơ sở giáo dục chung và chương trình đại học. Các trường học ở Mỹ đang tích hợp công nghệ để cải thiện quá trình giảng dạy. Học sinh sử dụng máy tính để nghiên cứu và hoàn thành bài tập trực tuyến.
Giáo viên sử dụng công cụ số hóa để tạo bài học và chia sẻ tài liệu. Các trường học cung cấp đào tạo cho giáo viên để sử dụng công nghệ một cách hiệu quả trong lớp học. Quá trình chuyển đổi số hóa cải thiện sự cộng tác giữa học sinh và giáo viên. Tại các trường tiểu học ở Singapore, công nghệ giúp học sinh học tập và khám phá một cách sáng tạo.
Học sinh sử dụng máy tính và máy tính bảng để truy cập nội dung giáo dục và rèn luyện kỹ năng. Giáo viên sử dụng công nghệ để tương tác với học sinh và tạo bài học thú vị. Các nền tảng trực tuyến cung cấp tài liệu học tập để học sinh tự học theo tốc độ của ch1inh học sinh. Công nghệ thông tin giúp nhà trường giữ liên lạc với phụ huynh và chia sẻ tiến trình học tập của học sinh.
Tại Nhật Bản, các trường tiểu học đang áp dụng các công cụ số hóa để nâng cao quá trình học tập. Học sinh sử dụng máy tính bảng cho bài học tương tác và sách giáo trình được số hóa. Giáo viên sử dụng công nghệ để quản lý điểm danh và liên lạc với phụ huynh. Các nền tảng trực tuyến cung cấp trò chơi và hoạt động giáo dục để làm cho việc học sinh động, tạo thích thú cho học sinh.
Quá trình chuyển đổi số hóa nhằm chuẩn bị cho học sinh cho một tương lai phụ thuộc vào công nghệ. Các nghiên cứu ở trong nước Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Việt Nam nói chung và ngành giáo dục đào tạo nói riêng cũng không thể nằm ngoài xu thế chung của thế giới và phải thực hiện rất khẩn trương nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội mà cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 mang lại. Với Việt Nam việc ứng dụng công nghệ thông tin đã giúp ngành giáo dục nâng cao hiệu quả quản lý và đổi mới chất lượng dạy và học. Nhờ có công nghệ mà diện mạo ngành giáo dục đã thay đổi từng ngày, từng giờ.
Những năm qua, chuyển đổi số trong giáo dục đã có một bước tiến dài, hướng đến mục tiêu “Việt Nam tiên phong và trở thành một trong những quốc gia đi đầu trong chuyển đổi số về giáo dục và đào tạo”. Nếu như thời gian trước, công tác quản lý trong giáo dục chủ yếu thông qua hồ sơ, sổ sách là chính, thì giờ đây, việc quản lý hồ sơ, sổ sách của cán bộ, giáo viên đã được đơn giản hóa bằng công nghệ thông tin. Các dữ liệu của ngành giáo dục tất cả đã được cập nhật vào hệ thống phần mềm giúp cho cán bộ quản lý tiện lợi mà không rườm rà về mặt sổ sách. Các nghiên cứu về chuyển đổi số được Nhà nước định hướng.
Từ những năm 2000 đã có ứng dụng công nghệ thông 10 tin trong quản lý giáo dục, trong thống kê và giảng dạy. Cục quản lý công nghệ thuộc Bộ giáo dục do ông Quách Văn Tuấn điều hành đã Ngành Giáo dục Đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số Quốc gia nói chung. Theo đó, ngành Giáo dục Đào tạo cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ giải pháp cụ thể gồm Thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chỉ số thành phần nguồn nhân lực Việt Nam theo phương pháp đánh giá chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc. Nhiều nghiên cứu về chuyển đồi số tại Việt Nam và chuyển đổi số trong Giáo dục Đào tạo phục vụ công cuộc chuyển đổi số Việt Nam thời chuyển đổi số về quan điểm, cáh tiếp cận cùng những kiến gải về những việc cấp thiết Việt Nam cần làm trong công cuộc chuyển đổi số của tác giả Think Tank Vinasa.
Nghiên cứu về lồng ghép nội dung giáo dục về chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt là những kỹ năng, kiến thức cơ bản, tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với những yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đưa vào giảng dạy trong trường đại học một cách phù hợp của tác giả Hoàng Sỹ Tương, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Thị Loan. Nghiên cứu về thực trạng chuyển đổi số ở Việt Nam để thấy được vị trí của Việt Nam so với các nước trên thế giới qua các trụ cột của tác giả Bùi Quang Tuấn và Hà Huy Ngọc. Nghiên cứu về vấn đề cốt lõi của chuyển đổi số và cơ hội của Việt Nam của tác giả Hồ Tú Bảo, Nguyễn Huy Dũng, Nguyễn Nhật Quang. Các bài viết trên các trang báo online về phổ cập tin học,triển khai dạy tin học cơ bản, làm quen với tin học cho học sinh ở tất cả các cấp học, bổ túc kiến thức cho người dân, toàn xã hội, đặc biệt qua các trung tâm giáo dục cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên.
Các bài viết về đào tạo nhân lực CNTT chuyên nghiệp theo hướng ứng dụng, phục vụ yêu cầu chuyển đổi số ở các cơ sở giáo dục của nhiều tác giả Đến nay, toàn ngành giáo dục đã chủ trương, xác định ứng dụng CNTT là 01 trong 09 nhóm nhiệm vụ trọng tâm triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục Đào tạo. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Đề án tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục, hỗ trợ đổi mới dạy - học, nghiên cứu khoa học triển khai trong toàn ngành. Hàng loạt chính sách thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục được ban hành, dần hoàn thiện hành lang pháp lý như các quy định ứng dụng CNTT trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng, quy chế hồ sơ điện tử, quy định quản lý, vận hành sử dụng hệ thống CSDL toàn ngành, mô hình ứng dụng CNTT trường phổ thông, chuẩn dữ liệu kết nối; hướng dẫn sử dụng chương trình phần mềm quốc gia như quản lý cán bộ (VPN), quản lý tài chính (IMAS), Quản lý tập huấn bồi dưỡng phổ 11 (taphuancsdl. hàng năm và nhiều văn bản chỉ đạo điều hành khác.
Trong quản lý giáo dục, toàn ngành đã triển khai số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung từ Trung ương đến 63 sở GDĐT, 710 phòng GDĐT và khoảng 53.000 cơ sở giáo dục. Hiện nay đã số hóa và định danh dữ liệu của khoảng 53.000 trường học, 1,4 triệu giáo viên, 23 triệu học sinh.