Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về sinh hoạt tổ chuyên môn Thế giới thế kỷ 21 đang chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội cùng với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ. Vì vậy mà theo xu thế ngày nay, các nước trên thế giới đều tập trung đầu tư vào phát triển hệ thống trường học, chuẩn bị tốt cho đầu ra - những thế hệ học sinh có khả năng thích ứng tốt trong xã hội rộng mở và trong nền kinh tế toàn cầu hóa.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, các trường và các tổ chuyên môn trong mỗi nhà trường cần trở thành những nhà lãnh đạo có hệ thống biết cách hợp tác và chia sẻ trách nhiệm, phân quyền quản lý cho đội ngũ quản lý bậc trung để điều hành hoạt động tổ chuyên môn, mang lại hiệu quả, chất lượng cho tất cả các hoạt động dạy học nói riêng cũng như các hoạt động giáo dục nói chung trong trường tiểu học cơ sở. Sinh hoạt tổ chuyên môn là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong nhà trường, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn cũng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Vì vậy, các nhà quản lý luôn nghiên cứu thực tiễn các nhà trường để tìm ra biện pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn sao cho có hiệu quả nhất. Ở Singapore trong The Principal's Handbook tầm quan trọng và nhiệm vụ của tổ chuyên môn trong trường tiểu học cơ sở đã được đưa ra như sau: Chỉ đạo trực tiếp việc đảm bảo nội dung môn học cho giáo viên trong tổ chuyên môn; Xây dựng kế hoạch và thực hiện, theo dõi, đánh giá việc thực hiện chương trình môn học; Phát triển đội ngũ giáo viên trong tổ chuyên môn của mình thông qua việc tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm, hội thảo, hội nghị, thao giảng.
Lựa chọn, chuẩn bị và tổ chức nguồn lực dạy học và học như: 7 sách giáo khoa, cơ sở vật chất. để khuyến khích việc sử dụng hiệu quả nguồn lực này trong lớp học. Vì vậy, trong nhà trường tiểu học cơ sở ở Singapore, CBQL và tổ trưởng chuyên môn cùng nhau phát triển một môi trường hợp tác và hỗ trợ, trong đó họ có thể tính toán rủi ro và tự cảm thấy được sự hỗ trợ, ủng hộ. Trong môi trường như vậy, các hoạt động chuyên môn sẽ được diễn ra có lộ trình, có mục đích và phù hợp với tình hình thực tiễn trong và ngoài nhà trường.
Đồng thời các nguồn lực tiềm năng của giáo viên, học sinh hay cơ sở vật chất sẽ được kính trọng và khai thác phù hợp. Lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm của giáo viên được cải thiện và khẳng định bền vững. Giáo viên sẽ học hỏi lẫn nhau trong nỗ lực hợp tác của mình và nhạy cảm hơn với nhu cầu của học sinh. Đây là những nhân tố chính đảm bảo cho những sinh hoạt tổ chuyên môn được diễn ra hiệu quả và có chất lượng.
Theo Trịnh Thị Phương Thảo và cộng sự (2023), những năm gần đây, chuyển đổi số được nhắc tới ngày càng nhiều trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục. Chuyển đổi số trong giáo dục tạo ra các cơ hội học tập mới khi người học tham gia trực tuyến, các điều kiện tiên tiến, các phương pháp giảng dạy được thay đổi đa dạng, linh hoạt. Trong giáo dục, chuyển đổi số giúp kết nối các tổ chức học tập và học sinh theo một cách hoàn toàn mới. Các trường học thu thập nhiều thông tin về học sinh, từ dữ liệu cá nhân đến điểm số và học sinh cũng cần biết cách tương tác trực tuyến một cách lịch sự và văn minh.
Dữ liệu lớn cung cấp cho họ cơ hội để đưa thông tin này đi xa hơn và sử dụng nó để hiểu rõ hơn về xu hướng và thành công của học sinh. Các trường học đã bắt đầu nhận ra tầm quan trọng này và việc dạy học sinh các nguyên tắc của công dân kỹ thuật số đã trở thành một xu hướng quan trọng trong suốt quá trình giáo dục [21]. Tác giả Youngs, P & King, M. (2002) đã sử dụng nghiên cứu nhiều năm ở các trường tiểu học trong khu vực đô thị để xem xét về cách thức lãnh 8 đạo tổ chuyên môn tại 4 trường.
Ông phát hiện ra rằng lãnh đạo tổ chuyên môn có thể duy trì những người có năng lực cao bằng cách tạo ra niềm tin, tạo ra cấu trúc thúc đẩy sinh hoạt của tổ chuyên môn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng trong quá trình chuyển đổi trong các lãnh đạo nhà trường, các CBQL phải nhận thức được các tiêu chuẩn và giá trị chung giữa các tổ chuyên môn trong khi đưa ra các chương trình mới vào giảng dạy. Cuối cùng, kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tổ chuyên môn chính là yếu tố trung gian giúp gắn kết giữa lãnh đạo nhà trường và thành tích của học sinh [30]. Trong nghiên cứu của mình, Eric C.
(2017) đã khẳng định vai trò của nhóm giáo viên viên và tổ chức hoạt động nhóm giáo viên trong hoạt động của nhà trường. Tác giả cho rằng, mô hình nhóm sinh hoạt chuyên môn của giáo viên có vai trò trong việc thúc đẩy phát triển nghề nghiệp liên tục của họ. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, năng lực chuyên môn của giáo viên được cải thiện thông qua việc hợp tác của giáo viên trong một tổ chức; bởi vậy, nhà quản lý cần nắm bắt tổ chức, điều hành hoạt động của các đơn vị trung gian – tổ, nhóm chuyên môn nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất [26]. Nghiên cứu sâu về vai trò, hoạt động đặc thù của tổ chuyên môn, tác giả Thái Duy Tuyên (2008) khẳng định rằng: tổ chuyên môn là tế bào cơ bản, giữ vị trí quan trọng nhất trong việc triển khai công tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy học, là đầu mối để thực hiện các quyết định chủ trương của CBQL, là nơi tổ chức học tập, ứng dụng để thể nghiệm các phương pháp dạy học mới.
Các công trình này đã nghiên cứu sâu ở các khía cạnh khác nhau về lĩnh vực quản lý giáo dục, quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn. Kết quả của các công trình trên có nhiều đóng góp cho công tác quản lý giáo dục ở các nhà trường phổ thông. Đồng thời, đó còn là những viên gạch giúp cho bản thân kế thừa một cách có cơ sở khoa học cho những định hướng nghiên cứu về quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn ở các trường tiểu học hiện nay [20]. Nhà nghiên cứu giáo dục ở Australia như Weller (2010), đã tiến hành 9 nghiên cứu, khảo sát và nhận thấy: Vai trò và vị trí của tổ chuyên môn trong cấu trúc tổ chức của các trường học ngày nay trong nhận thức của các nhà lãnh đạo bậc trung càng được gia tăng về mức độ ảnh hưởng và tầm quan trọng, đặc biệt là mối quan hệ sự phát triển của nhà trường đối với từng giai đoạn nhất định.
Trong thực tế, Weller khẳng định tổ chuyên môn là đơn vị có khả năng ảnh hưởng lớn nhất tới cấu trúc của một trường học. Một trong những sinh hoạt chính của tổ chuyên môn chịu sự tác động trực tiếp bởi sự ảnh hưởng này chính là việc lập kế hoạch và ra quyết định hoạt động. Vì vậy, các hoạt động chuyên môn trong các tổ chức có sức mạnh đáng kể, quyết định trực tiếp đến tốc độ và hiệu suất công tác của toàn bộ trường học [24]. Từ những nghiên cứu và những đánh giá của các nhà giáo dục kể trên cho thấy rất rõ tầm quan trọng của tổ trưởng chuyên môn trong nhà trường tiểu học.
Cụ thể, sinh hoạt tổ chuyên môn là vô cùng cần thiết trong việc nâng cao chất lượng dạy và học cũng như trong việc phát triển nhà trường nhằm thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng về kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ trên thế giới. Những nghiên cứu về quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng chuyển đổi số ở trường Tiểu học Theo Lê Ngọc Hùng (2022), tác giả đưa ra tổng quan lý thuyết các khoa học giáo dục, hệ thống mười ba lý thuyết các khoa học giáo dục về học tập và dẫn chứng tiêu biểu, các tác phẩm gốc, các giai đoạn phát triển và sự phát triển của các loại lý thuyết. Bên cạnh đó, trình bày bộ ba chủ thuyết Watson - Vygotsky - Piaget và mười lý thuyết tiêu biểu cho ba nhóm lý thuyết tương ứng với ba trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ "giáo dục và con người", "xã hội và giáo dục" và "con người và giáo dục". Theo tác giả, một lý thuyết tốt đẹp mang tính thực tiễn cao vẫn có thể rất trừu tượng, phức tạp với nhiều cơ hội và thách thức.
Do vậy, lý thuyết các khoa học giáo dục cần được tiếp cận với tinh thần học hỏi cởi mở, bao dung, sáng tạo của những người quan 10 tâm tới lĩnh vực giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học nhất là học tập, lãnh đạo, quản lý. Tác giả cho rằng, trên thực tế coi quản lý giáo dục chỉ là việc áp dụng khoa học quản lý nói chung vào một lĩnh vực cụ thể là giáo dục và đào tạo mà chưa chú trọng phát triển chuyên ngành khoa học lãnh đạo, quản lý giáo dục với tính cách là lĩnh vực khoa học chuyên ngành trong hệ thống khoa học lãnh đạo, quản lý. Từ đây đặt ra vấn đề phải nghiên cứu làm rõ các đặc thù của các thành tố cơ bản cấu thành nên hệ thống giáo dục xoay quanh sứ mệnh, mục tiêu của nó là phát triển nhân cách ở người học thông qua hoạt động chủ yếu là dạy - học và mối tương tác xã hội giữa người dạy và người học. Điều này khác hẳn với các lý thuyết lãnh đạo, quản lý hiện đại chủ yếu xuất phát từ các nghiên cứu về hệ thống, tổ chức sản xuất, kinh doanh và hành chính nhằm mục tiêu cuối cùng là tăng lợi nhuận kinh tế, tăng hiệu quả kinh tế - kỹ thuật [11].
Hàng Sấm Nang, Đào Huy Hoàng, Trần Đại Quang (2023), với nghiên cứu “Cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số giáo dục đại học tại Việt Nam”, đăng trên tạp chí Khoa Học Công Nghệ. Theo các tác giả, chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục đại học là một xu hướng phát triển quan trọng trong thời đại công nghệ số.