Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học học phần Giáo dục học ở trường Đại học" do nghiên cứu sinh Hồ Thị Dung thực hiện tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TSKH Thái Duy Tuyên. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục, mã số 62.02, bảo vệ năm 2013 tại Hà Nội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong đào tạo đại học nói chung và đào tạo giáo viên tại các trường đại học sư phạm nói riêng, bài tập được xác định là phương tiện thực hiện nguyên lý giáo dục: học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Việc chuyển đổi phương thức đào tạo sang học chế tín chỉ đòi hỏi gia tăng thời lượng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học học phần Giáo dục học tại các trường đại học bộc lộ nhiều điểm hạn chế:

  • Phương pháp giảng dạy của giảng viên còn nặng về truyền thụ lý thuyết, nhẹ về thực hành và luyện tập kỹ năng nghề nghiệp.
  • Các bài tập trong giáo trình và bài giảng chủ yếu dùng để củng cố tri thức, mang tính kinh nghiệm, thiếu tính hệ thống và chưa được xây dựng trên một cơ sở lý luận rõ ràng.
  • Sinh viên có khả năng tái hiện lý thuyết nhưng kỹ năng thực hành nghề nghiệp, xử lý tình huống sư phạm khi đi kiến tập và thực tập còn yếu.
  • Chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu kỹ thuật thiết kế bài tập, thiết kế hệ thống bài tập cho một bài học, một giáo trình và quy trình sử dụng bài tập trong dạy học theo phương thức đào tạo theo tín chỉ.

Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Thiết kế hệ thống bài tập và đề xuất quy trình sử dụng chúng trong dạy học nhằm kích thích sinh viên chủ động tìm kiếm tri thức thông qua các hành động học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tại các trường đại học sư phạm.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu thiết kế được một hệ thống bài tập Giáo dục học đảm bảo tính đa dạng, cân đối giữa bài tập lý thuyết – bài tập thực hành, bài tập tái hiện – bài tập sáng tạo, đồng thời sử dụng hệ thống bài tập phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thì sẽ nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo tại các trường đại học sư phạm.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 4 nhiệm vụ:
    1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học học phần Giáo dục học ở trường đại học.
    2. Khảo sát thực trạng việc thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học học phần Giáo dục học ở trường đại học.
    3. Thiết kế hệ thống bài tập và xây dựng quy trình sử dụng hệ thống bài tập theo các loại giờ học.
    4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khoa học, tính khả thi của hệ thống bài tập và quy trình sử dụng đã đề xuất.

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học môn Giáo dục học tại các trường đại học.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ của bài tập với các thành tố của quá trình dạy học.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu hệ thống bài tập phần I: "Những vấn đề chung của Giáo dục học" (thuộc học phần Giáo dục học) tại các trường đại học.
  • Phạm vi đối tượng: Sinh viên năm thứ hai hệ đại học sư phạm chính quy thuộc các khoa sư phạm không chuyên; giảng viên giảng dạy bộ môn Tâm lý – Giáo dục.
  • Phạm vi không gian:
    • Khảo sát thực trạng tại 5 cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Hồng Đức, Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Thực nghiệm sư phạm tại Trường Đại học Hồng Đức (tập trung vào Chương II và Chương III của Phần I).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tổng hợp và phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề bài tập và hệ thống bài tập trong dạy học theo hai bình diện: quốc tế và Việt Nam.

Các công trình nghiên cứu trên thế giới

  • Từ thế kỷ 18, nhà giáo dục Thụy Sĩ J. H. Pestalozzi đã khẳng định vai trò của hệ thống các bài luyện tập có mức độ phức tạp tăng dần trong việc hình thành kỹ năng hành động.
  • Đầu thế kỷ 20, nhà tâm lý học Xô Viết L. S. Vygotsky xây dựng lý thuyết về "Vùng phát triển gần nhất" (vùng cận phát triển), phân định hai mức độ giải quyết nhiệm vụ: bài tập trẻ tự thực hiện được (mức phát triển hiện tại) và bài tập cần sự trợ giúp (vùng phát triển gần nhất), định hướng người dạy thiết kế bài tập học tập - nhận thức đón đầu sự phát triển.
  • Cuối những năm 80 thế kỷ 20, các tác giả Liên Xô như Socolovskaia (1971), Abramova P. (1955, 1959) nghiên cứu bản chất, nội dung và phương pháp thiết kế, sử dụng câu hỏi và bài tập để tích cực hóa hoạt động nhận thức.
  • Tác giả Sharma và R. Ahmed (1960) đề xuất quy trình dạy học qua bài tập gồm 3 giai đoạn: GV thiết kế và chỉ dẫn tài liệu; SV tự nghiên cứu và tự làm bài; GV làm việc trên lớp qua thảo luận, xêmina, kiểm tra, đánh giá.
  • Các nghiên cứu về phân loại bài tập: I. A. Rubakin, Rretke nghiên cứu bài tập nhận thức; Robert J. Pollock nhấn mạnh vai trò của bài tập lý thuyết và thực hành đối với việc thành thục kỹ năng; I. F. Kharlamov khẳng định vai trò của bài tập sáng tạo trong việc phát triển tư duy độc lập; N. Bordovskaia và A. Rean (2000, NXB Nutep) trong giáo trình Giáo dục học đưa ra hệ thống bài tập thực hành đa dạng.

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

  • Nghiên cứu lý luận chung về bài tập và phương pháp dạy học: Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà (1996) nghiên cứu bài tập như cầu nối lý thuyết - thực hành và quy trình 4 giai đoạn xử lý tình huống - hành động; Thái Duy Tuyên (2000s) xác lập cấu trúc thông tin của bài tập (điều kiện và yêu cầu), các nguyên tắc và quy trình thiết kế bài tập; Phan Trọng Ngọ (2005) nghiên cứu cấu trúc bài tập và các hình thức bài tập tự học; Phạm Viết Vượng biên soạn Bài tập Giáo dục học với hệ thống câu hỏi tự luận và trắc nghiệm; Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức nghiên cứu bản chất và phương pháp dạy học đại học; Lâm Quang Thiệp, Lê Viết Khuyến phân tích các đặc trưng của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ.
  • Nghiên cứu bài tập thực hành môn Giáo dục học: Nguyễn Như An, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Đình Chỉnh với giáo trình Thực hành Giáo dục học (thập niên 90); Bùi Thị Mùi nghiên cứu xây dựng tình huống sư phạm phần Lý luận giáo dục; Trần Thị Hương (2004) nghiên cứu bài tập thực hành rèn kỹ năng hoạt động giáo dục; Vũ Thị Nguyệt (2008) xây dựng bài tập thực hành học phần Lý luận dạy học; Phan Thị Lan Phương (2009) xây dựng hệ thống bài tập học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục.
  • Nghiên cứu bài tập ở các môn học khác: Lê Thanh Oai (2001, Sinh học 11); Trần Đình Châu (1996, Số học THCS); Tôn Thân (1995, Toán THCS); Lê Hữu Tỉnh (2001, Từ ngữ Tiểu học); Xuân Thị Nguyệt Hà (Văn miêu tả Tiểu học).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung vào một dạng bài tập đơn lẻ (bài tập tình huống hoặc bài tập thực hành), chưa phân loại rõ ràng theo các trục: bài tập lý thuyết – bài tập thực hành, bài tập tái hiện – bài tập sáng tạo. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu hệ thống hóa thành quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh từ khâu thiết kế một bài tập, thiết kế hệ thống bài tập cho một bài học đến toàn bộ một giáo trình, cũng như quy trình sử dụng chúng tương thích với các loại giờ học trong học chế tín chỉ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm cốt lõi

  1. Thiết kế: Là quá trình nghiên cứu, lập dự án, kế hoạch cho một hoạt động cụ thể, xác lập các yếu tố cấu thành và mối liên hệ logic giữa chúng nhằm đạt được mục tiêu xác định.
  2. Bài tập (BT): Là một dạng nhiệm vụ học tập do giáo viên đặt ra cho học sinh/sinh viên; gồm hai thành phần cơ bản:
    • Điều kiện (dữ kiện): Tập hợp thông tin đã cho (cái đã biết).
    • Yêu cầu: Trạng thái mong muốn đạt tới (cái phải tìm, chứa đựng mâu thuẫn nhận thức).
  3. Hệ thống bài tập (HTBT): Tập hợp các bài tập được sắp xếp theo một trật tự xác định, giữa các bài tập có mối quan hệ biện chứng nhằm thực hiện mục tiêu của giờ học, bài học và môn học.
  4. Bài tập Giáo dục học: Nhiệm vụ học tập gồm bài tập lý thuyết và bài tập thực hành nhằm giúp sinh viên lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng dạy học - giáo dục, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học sư phạm.
  5. Dạy học đại học theo học chế tín chỉ: Quá trình dạy học mang tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới sự tổ chức, điều khiển của giảng viên. Cấu trúc học phần tín chỉ quy đổi 1 giờ lý thuyết = 2 giờ thảo luận/xêmina = 3 giờ tự học.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh và phương pháp lịch sử đối với văn kiện giáo dục, tài liệu tâm lý học, giáo dục học, chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong và ngoài nước.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát 62 giảng viên giảng dạy môn Giáo dục học và 551 sinh viên năm thứ hai tại 5 trường đại học (ĐHSP Hà Nội, ĐH Hồng Đức, ĐHSP Huế, ĐH Sài Gòn, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh).
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích giáo án, hồ sơ bài giảng của giảng viên; phân tích bài kiểm tra lý thuyết, bài tập thảo luận nhóm và vở ghi chép tự học của sinh viên.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm đối chứng 2 vòng trên các nhóm lớp tương đương tại Trường Đại học Hồng Đức để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập và quy trình sử dụng.
  • Phương pháp bổ trợ: Quan sát các giờ dạy (lý thuyết, xêmina, thực hành); phỏng vấn chuyên gia; tổng kết kinh nghiệm giảng dạy.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng qua các tham số: điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến thiên ($V$), giá trị kiểm định $t$-Student ($t_{tn}$ so với $t_{tc}$), mức ý nghĩa $p \le 0{,}05$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng bài tập trong dạy học học phần Giáo dục học ở trường Đại học

Chương 1 xây dựng khung lý luận tổng thể cho toàn bộ đề tài:

  • Bản chất của dạy học đại học: Xác định dạy học đại học là quá trình nhận thức độc đáo mang tính chất nghiên cứu của sinh viên, trong đó giảng viên giữ vai trò chủ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra), sinh viên là chủ thể tự giác, tích cực.
  • Phân loại bài tập trong dạy học Giáo dục học: Luận án hệ thống hóa bài tập thành 2 nhóm chính với các phân lớp chi tiết:
    • Bài tập lý thuyết: Gồm 3 mức độ (Mức 1: Tái hiện thuần thục; Mức 2: Vận dụng giải quyết mâu thuẫn đơn giản; Mức 3: Vận dụng giải quyết mâu thuẫn phức tạp, phân tích - so sánh các quan điểm).
    • Bài tập thực hành: Gồm 4 dạng (BT thực hành có tính chất lý thuyết; BT từ thực tiễn rút ra kết luận sư phạm; BT thực hành giải quyết tình huống giáo dục; BT thực hành rèn luyện kỹ năng nghề sư phạm).
  • Mối quan hệ giữa BT tái hiện và BT sáng tạo: Bài tập tái hiện tạo nền tảng tri thức và tư duy logic; bài tập sáng tạo (gồm bài tập nghiên cứu "Tại sao" và bài tập sáng chế "Làm thế nào", bài tập nhiều cách giải, bài tập nghịch lý) phát triển tính linh hoạt, độc lập của tư duy.
  • Đặc điểm học phần Giáo dục học trong học chế tín chỉ: Nội dung mang tính khái quát, gắn liền với các hiện tượng thực tiễn giáo dục phổ thông; đòi hỏi kết hợp đồng bộ 4 hình thức tổ chức dạy học: giờ lý thuyết, giờ thảo luận/xêmina, giờ làm việc nhóm và giờ tự học/tự nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của thiết kế và sử dụng bài tập trong dạy học học phần Giáo dục học ở trường Đại học

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng thiết kế và sử dụng bài tập qua 15 bảng số liệu thống kê (từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.15):

  • Nhận thức về sự cần thiết và ý nghĩa: 100% giảng viên và phần lớn sinh viên đều khẳng định việc sử dụng bài tập trong dạy học Giáo dục học là cần thiết và rất cần thiết; giải bài tập giúp khắc sâu tri thức lý thuyết, phát triển kỹ năng nghề và năng lực tự học.
  • Thực trạng nhận thức về quy trình thiết kế: Nhiều giảng viên chưa nắm vững quy trình kỹ thuật bài bản khi thiết kế: chỉ có 41,9% GV nắm rõ quy trình thiết kế 1 bài tập; tỷ lệ này đối với thiết kế hệ thống bài tập cho một bài học và một giáo trình lần lượt là 35,5% và 29,0%.
  • Mức độ và tần suất sử dụng bài tập: Giảng viên chủ yếu sử dụng bài tập trong các giờ ôn tập, kiểm tra hoặc xen kẽ bài giảng lý thuyết; việc sử dụng bài tập lớn, bài tập dự án dài hạn cho sinh viên tự học còn hạn chế.
  • Khó khăn của giảng viên và sinh viên:
    • Giảng viên: Thiếu quỹ thời gian trên lớp, nguồn tài liệu và bài tập mẫu chuẩn hóa còn thiếu, việc chấm và chữa bài tập cho lớp đông sinh viên gặp nhiều áp lực.
    • Sinh viên: Hiểu biết thực tiễn giáo dục phổ thông hạn chế (chiếm tỷ lệ đánh giá cao nhất), kỹ năng thu thập và xử lý thông tin yếu, thói quen học tập còn thụ động, coi Giáo dục học là môn phụ.
Tiêu chí khảo sát thực trạng Giảng viên ($N=62$) Sinh viên ($N=551$)
Đánh giá mức độ rất cần thiết của BT GDH 85,5% 74,2%
Nắm vững quy trình thiết kế một bài tập 41,9% Không khảo sát
Khó khăn: Hiểu biết thực tiễn GD còn hạn chế 77,4% 81,3%
Khó khăn: Chưa có phương pháp tự học phù hợp 64,5% 72,6%

Chương 3: Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập Giáo dục học ở trường Đại học

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật sư phạm hoàn chỉnh gồm các nguyên tắc, yêu cầu, quy trình thiết kế và quy trình sử dụng:

1. Quy trình thiết kế bài tập và hệ thống bài tập

  • Quy trình thiết kế một bài tập (5 bước):
    • Bước 1: Xác định mục tiêu của bài tập (kiến thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành).
    • Bước 2: Xác định nội dung và lựa chọn dạng bài tập (lý thuyết/thực hành, tái hiện/sáng tạo).
    • Bước 3: Thu thập và xử lý thông tin, dữ kiện thực tiễn hoặc tài liệu khoa học.
    • Bước 4: Biên soạn nội dung điều kiện và diễn đạt yêu cầu của bài tập.
    • Bước 5: Xây dựng đáp án, thang điểm đánh giá và chỉ dẫn thực hiện.
  • Quy trình thiết kế hệ thống bài tập cho một bài học (4 bước): Phân tích mục tiêu bài học $\rightarrow$ Lập ma trận các dạng bài tập theo tiến trình $\rightarrow$ Biên soạn và liên kết các bài tập $\rightarrow$ Thử nghiệm và hoàn thiện.
  • Quy trình thiết kế hệ thống bài tập cho một giáo trình/học phần (5 bước): Nghiên cứu chương trình tổng thể $\rightarrow$ Phân bổ cấu trúc bài tập theo các chương mục $\rightarrow$ Xây dựng ngân hàng bài tập $\rightarrow$ Thẩm định chuyên môn $\rightarrow$ Đóng gói và hướng dẫn sử dụng.

2. Quy trình sử dụng bài tập theo các loại giờ học

  • Giờ lý thuyết: Sử dụng bài tập ngắn, bài tập tình huống mở đầu để tạo mâu thuẫn nhận thức hoặc củng cố nhanh từng đơn vị kiến thức.
  • Giờ xêmina / thảo luận: Giao trước các bài tập nghiên cứu, bài tập so sánh các quan điểm sư phạm hoặc giải quyết tình huống phức tạp cho cá nhân/nhóm chuẩn bị, tổ chức tranh luận tại lớp.
  • Giờ làm việc nhóm: Giao bài tập rèn luyện kỹ năng (lập kế hoạch giáo dục, soạn giáo án, giải quyết tình huống thực tế) để các nhóm hợp tác thực hiện và trình bày sản phẩm.
  • Giờ tự học, tự nghiên cứu: Sử dụng bài tập lớn, bài tập tuần/tháng có tài liệu hướng dẫn kèm theo để sinh viên tự đào sâu tri thức.

3. Xây dựng hệ thống 74 bài tập minh họa

Luận án đã biên soạn 74 bài tập cho Phần I: "Những vấn đề chung của Giáo dục học", phân bổ theo 3 chương:

Phân bố hệ thống bài tập theo chương Bài tập lý thuyết Bài tập thực hành Tổng số bài tập
Chương I: Giáo dục học là một khoa học 08 06 14
Chương II: Giáo dục và sự phát triển nhân cách 13 16 29
Chương III: Mục đích và nhiệm vụ giáo dục 12 19 31
Tổng cộng toàn học phần 33 41 74

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của hệ thống bài tập và quy trình đề xuất qua thực nghiệm sư phạm tại Trường Đại học Hồng Đức:

  • Quy mô và thiết kế thực nghiệm:
    • Tổ chức 2 vòng thực nghiệm trên các cặp lớp Thực nghiệm (TN) và Đối chứng (ĐC) có trình độ đầu vào tương đương.
    • Vòng 1: Gồm 2 cặp lớp (TN1 - ĐC1; TN2 - ĐC2).
    • Vòng 2: Gồm 2 cặp lớp (TN3 - ĐC3; TN4 - ĐC4).
    • Sử dụng hệ thống bài tập trong giảng dạy các nội dung Chương II và Chương III của học phần.
  • Đánh giá kết quả thực nghiệm:
    • Qua 3 bài kiểm tra ở mỗi vòng (kiểm tra đầu vào, kiểm tra giữa kỳ lần 2, kiểm tra tổng kết lần 3), điểm số của các lớp TN đều có sự chuyển biến tích cực so với các lớp ĐC.
    • Tỷ lệ sinh viên đạt điểm khá, giỏi ở các lớp TN cao hơn lớp ĐC rõ rệt; tỷ lệ điểm trung bình và yếu kém giảm mạnh.
    • Các tham số thống kê toán học khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê: điểm trung bình $\bar{X}{TN} > \bar{X}{ĐC}$, độ lệch chuẩn $S_{TN} < S_{ĐC}$, hệ số biến thiên $V_{TN} < V_{ĐC}$, giá trị kiểm định $t_{tn} > t_{tc}$ ở mức ý nghĩa $p \le 0{,}05$.
  • Khảo sát tính phù hợp của quy trình: Kết quả lấy ý kiến giảng viên tham gia thực nghiệm (Bảng 4.20, 4.21, 4.22) đều đánh giá quy trình thiết kế một bài tập, hệ thống bài tập cho một bài học và một giáo trình ở mức độ "phù hợp" và "rất phù hợp".
Vòng thực nghiệm Lớp Số lượng SV ($N$) Điểm trung bình ($\bar{X}$) Độ lệch chuẩn ($S$) Hệ số biến thiên ($V%$)
Vòng 1 (Kiểm tra lần 3) Lớp TN1 48 7,65 0,92 12,02%
Lớp ĐC1 47 6,72 1,18 17,55%
Vòng 2 (Kiểm tra lần 3) Lớp TN3 52 7,81 0,88 11,26%
Lớp ĐC3 50 6,85 1,14 16,64%

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về bài tập, hệ thống bài tập trong dạy học đại học; làm rõ đặc trưng và vai trò của bài tập môn Giáo dục học trong bối cảnh đào tạo theo học chế tín chỉ.
  2. Xác lập hệ thống tiêu chí phân loại bài tập Giáo dục học thành 2 nhóm lớn (bài tập lý thuyết và bài tập thực hành), trong đó tích hợp các mức độ từ tái hiện đến sáng tạo, làm rõ cấu trúc 2 thành phần (điều kiện và yêu cầu) của bài tập sư phạm.
  3. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc, yêu cầu và quy trình kỹ thuật chuẩn hóa để: thiết kế một bài tập, thiết kế hệ thống bài tập cho một bài học, thiết kế hệ thống bài tập cho toàn bộ một giáo trình/học phần.
  4. Đề xuất quy trình sử dụng hệ thống bài tập tương thích với đặc thù của từng loại giờ học trong học chế tín chỉ (giờ lý thuyết, giờ xêmina, giờ làm việc nhóm, giờ tự học).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng nhận thức, kỹ năng thiết kế và mức độ sử dụng bài tập Giáo dục học của 62 giảng viên và 551 sinh viên tại 5 trường đại học lớn trên toàn quốc; chỉ ra các nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến chất lượng học tập bộ môn.
  2. Trực tiếp thiết kế hệ thống 74 bài tập chuẩn hóa (33 bài tập lý thuyết và 41 bài tập thực hành) cho Phần I: "Những vấn đề chung của Giáo dục học", có kèm theo hướng dẫn thực hiện và thang đánh giá cụ thể.
  3. Kiểm chứng thực nghiệm thành công tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập và quy trình sử dụng, cung cấp minh chứng định lượng về việc nâng cao kết quả học tập và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần chuẩn hóa chuẩn đầu ra nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm; rà soát, tinh giản chương trình lý thuyết để tăng thời lượng cho rèn luyện kỹ năng và thực hành nghiệp vụ sư phạm.
  • Đối với các trường đại học sư phạm: Đầu tư xây dựng ngân hàng bài tập và tình huống sư phạm chuẩn hóa dùng chung; đổi mới phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập theo hướng đánh giá năng lực thực hành và giải quyết vấn đề; tạo điều kiện cơ sở vật chất, phòng thực hành nghiệp vụ sư phạm.
  • Đối với giảng viên: Tích cực nâng cao năng lực biên soạn và kỹ thuật sử dụng bài tập; thay đổi phương pháp dạy học từ truyền thụ một chiều sang tổ chức hoạt động học tập; tăng cường giao bài tập tự học, tự nghiên cứu có hướng dẫn rõ ràng.
  • Đối với sinh viên: Nâng cao nhận thức về vị trí của môn Giáo dục học; chủ động xây dựng kế hoạch tự học, tích cực rèn luyện kỹ năng giải bài tập và xử lý tình huống sư phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu, thiết kế hệ thống bài tập và tổ chức thực nghiệm sư phạm trong phạm vi Phần I: "Những vấn đề chung của Giáo dục học" (tập trung vào Chương II và Chương III). Địa bàn thực nghiệm sư phạm mới chỉ triển khai tại Trường Đại học Hồng Đức trên đối tượng sinh viên năm thứ hai thuộc các khoa sư phạm không chuyên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thiết kế hệ thống bài tập cho toàn bộ các phần còn lại của chương trình Giáo dục học (Phần Lý luận dạy học, Phần Lý luận giáo dục, Phần Quản lý giáo dục và Quản lý nhà trường); triển khai thực nghiệm diện rộng trên nhiều chuyên ngành đào tạo sư phạm và các trường đại học sư phạm khác nhau trên cả nước.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên giảng dạy Tâm lý - Giáo dục: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận và kỹ thuật biên soạn bài tập, ma trận bài tập cho từng bài học, đồng thời cung cấp ngân hàng 74 bài tập mẫu có thể sử dụng trực tiếp trong các giờ giảng lý thuyết, xêmina và giao bài tự học.
  • Đối với sinh viên sư phạm: Là tài liệu tự học hữu ích giúp hệ thống hóa kiến thức lý luận, rèn luyện kỹ năng giải quyết tình huống giáo dục, kỹ năng lập kế hoạch sư phạm để chuẩn bị cho các đợt kiến tập, thực tập sư phạm và hội thi nghiệp vụ sư phạm.
  • Đối với các nhà quản lý đào tạo và cán bộ phát triển chương trình: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế đề cương chi tiết học phần, xây dựng ngân hàng đề thi đánh giá năng lực người học theo học chế tín chỉ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia bài tập Giáo dục học thành những loại và mức độ nào?

Luận án phân chia bài tập Giáo dục học thành 2 nhóm chính:

  • Bài tập lý thuyết: Gồm Mức độ 1 (tái hiện tri thức), Mức độ 2 (vận dụng giải quyết mâu thuẫn đơn giản), Mức độ 3 (vận dụng giải quyết mâu thuẫn phức tạp, phân tích quan điểm).
  • Bài tập thực hành: Gồm 4 dạng: BT thực hành có tính chất lý thuyết; BT từ thực tiễn rút ra kết luận sư phạm; BT thực hành giải quyết tình huống giáo dục; BT thực hành rèn luyện kỹ năng sư phạm. Trong mỗi nhóm đều có sự đan xen giữa bài tập tái hiện và bài tập sáng tạo.

2. Quy trình thiết kế một bài tập Giáo dục học gồm những bước nào?

Theo đề xuất của tác giả, quy trình thiết kế một bài tập gồm 5 bước:

  1. Xác định mục tiêu của bài tập.
  2. Xác định nội dung và lựa chọn dạng bài tập phù hợp.
  3. Thu thập và xử lý các nguồn thông tin, tư liệu, dữ kiện thực tiễn.
  4. Biên soạn nội dung điều kiện và xác lập yêu cầu cần tìm của bài tập.
  5. Xây dựng đáp án, thang điểm đánh giá và chỉ dẫn thực hiện.

3. Hệ thống 74 bài tập minh họa trong luận án được phân bố như thế nào?

74 bài tập được thiết kế cho Phần I: "Những vấn đề chung của Giáo dục học", phân bố cụ thể:

  • Chương I (Giáo dục học là một khoa học): 14 bài tập (8 BT lý thuyết, 6 BT thực hành).
  • Chương II (Giáo dục và sự phát triển nhân cách): 29 bài tập (13 BT lý thuyết, 16 BT thực hành).
  • Chương III (Mục đích và nhiệm vụ giáo dục): 31 bài tập (12 BT lý thuyết, 19 BT thực hành).

4. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Đại học Hồng Đức chứng minh điều gì?

Thực nghiệm sư phạm 2 vòng đối chứng khẳng định việc sử dụng hệ thống bài tập theo quy trình đề xuất giúp nâng cao kết quả học tập của sinh viên lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng. Điểm trung bình kiểm tra của các lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng với độ tin cậy thống kê ($p \le 0{,}05$), hệ số biến thiên nhỏ hơn thể hiện sự đồng đều và vững chắc về tri thức và kỹ năng nghề của sinh viên.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Thị Dung đã giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về kỹ thuật thiết kế và quy trình sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học học phần Giáo dục học ở trường đại học theo phương thức đào tạo tín chỉ. Công trình đã xây dựng hệ thống nguyên tắc, quy trình thiết kế 3 cấp độ (cho 1 bài tập, cho 1 bài học, cho 1 giáo trình) và quy trình tổ chức dạy học theo 4 loại giờ học đặc thù. Hệ thống 74 bài tập được thiết kế và kiểm chứng thực nghiệm tại Trường Đại học Hồng Đức đã khẳng định tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên đại học.