phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực công nghệ thông tin và truyền thông cho giáo viên các trường tiểu học trong bổi cảnh chuyển đổi số. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực công nghệ thông tin và truyền thông cho giáo viên các trường tiểu học huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong bổi cảnh chuyển đổi số. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực công nghệ thông tin và truyền thông cho giáo viên các trường tiểu học huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong bổi cảnh chuyển đổi số. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC TRONG BỔI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ như hiện nay trên thế giới, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, tất cả các hoạt động kinh tế-xã hội, trong đó có giáo dục đều chịu sự chi phối của xu hướng tiến bộ khoa học công nghệ đó. Việc ứng dụng những công nghệ mới vào giáo dục trong đó có CNTT và TT đã trở thành yêu cầu tất yếu, nó đã trở thành giải pháp công nghệ không thể thay thế được trong quá trình đổi mới và hiện đại hóa nền giáo dục của mỗi quốc gia. Ứng dụng CNTT-TT chính là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng hoạt động dạy và học ở nhà trường. Với tầm quan trọng như vậy của CNTT- TT, các nhà quản lý giáo dục của các nước bắt buộc phải suy nghĩ về việc làm thế nào để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT-TT vào dạy học? và làm sao ứng dụng CNTT-TT vào dạy học cho hiệu quả? Ý thức được vai trò của CNTT-TT trong dạy học như vậy, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện về ứng dụng CNTT-TT trong dạy học.
Trong công trình nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả dạy học và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học sư phạm” của các tác giả Phạm Xuân Hậu và Phạm Văn Danh đã đề cập tới việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo. Các tác giả đã chỉ ra rằng với sự xuất hiện của CNTT-TT, trong giáo dục và đào tạo đã hình thành những phương thức đào tạo mới cả ở trên thế giới và ở Việt Nam. Từ đó các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin và truyền thông cho đội ngũ giáo viên để họ có đủ năng lực tham gia các hoạt động giáo dục trong 7 bổi cảnh chuyển đổi số hiện nay, góp phần phát triển giáo dục Việt Nam đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho nền kinh tế tri thức như chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính Trị đã khẳng định: ". Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ớ các cấp học, bậc học, ngành học.
Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội" [3]. Luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn Nghiêm (2013) về “Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học của giáo viên các môn tự nhiên bậc trung học phổ thông (nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bình Phước)”. Nghiên cứu đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học của giáo viên THPT đồng thời xác định mối tương quan giữa các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT của giáo viên giảng dạy các môn khoa học tự nhiên bậc THPT. Kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy: Thực trạng mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên giảng dạy các môn khoa học tự nhiên trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Chỉ ra các yếu tố tác động và mức độ tác động của từng yếu tố đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên giảng dạy các môn khoa học tự nhiên tỉnh Bình Phước. Từ đó nghiên cứu sẽ đề xuất một số gợi ý đối với Sở GD-ĐT, các trường THPT và giáo viên THPT, nhằm nâng cao mức độ ứng dụng CNTT trong HĐDH của giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục [24]. Cùng với vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy học thì vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong suốt những năm qua. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị tác giả tiếp cận được trong thực hiện đề tài luận văn như sau: Đỗ Đức Minh (2016) thực hiện nghiên cứu “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục trường đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tiểu học, tiến hành phân tích đánh giá thực trạng quản lý 8 ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì. Dựa trên những hạn chế còn tồn tại, nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ trong thời gian đến năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đối với cấp tiểu học trên địa bàn [23]. Nguyễn Đăng Khoa (2019) thực hiện nghiên cứu “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ”, Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Đồng Tháp. Nghiên cứu tiến hành đánh giá thực trạng công tác ứng dụng CNTT vào dạy học tại các trường TH Quận Ninh Kiều, thành phố Cần thơ được lãnh đạo các cấp quan tâm; CBQL và giáo viên có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào dạy học, quản lý.
Tuy nhiên, trong quản lý vẫn còn nhiều khó khăn, một số biện pháp quản lý chưa phát huy hết hiệu quả như: Quản lý ứng dụng CNTT còn mang tính hành chính, công tác bồi dưỡng chưa có kế hoạch kịp thời; Việc thực hiện các chức năng quản lý đội ngũ CBQL còn một số hạn chế, nhất là trong công tác kiểm tra, đánh giá; Việc quản lý đảm bảo điều kiện ứng dụng CNTT trong dạy học chưa được quan tâm đúng mức,… [21]. Nhìn chung, các nghiên cứu đã khẳng định ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học cũng như tính cấp thiết của các biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học. Thực tế ở Việt Nam việc ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD.
Trong mục tiêu tổng quát của Chỉ thị này đã nêu: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, 9 phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo thông qua việc QL, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp GD để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” [11]. Như vậy có thể thấy rằng để phát triển giáo dục trong tình hình mới thì nhân tố con người là cực kỳ quan trọng, trong đó đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định. Để xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên thì phải thường xuyên tiến hành bồi dưỡng đội ngũ giáo viên một cách nghiêm túc, đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Cả người có trách nhiệm tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên và bản thân giáo viên đều phải phát huy cao độ ý thức làm chủ, thấy hết trách nhiệm của mình đối với tương lai của ngành để làm tốt hoạt động này.
Do tầm quan trọng của vấn đề bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên như vậy, nên đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành đề cập đến vấn đề bồi dưỡng giáo viên. Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên, nói về các vấn đề để nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức cho đội ngũ giáo viên [2]. Tác giả Hà Nhật Thăng và tác giả Lê Quang Sơn với cuốn sách “Rèn luyện kỹ năng sư phạm” nói về vai trò của người GV, kỹ năng sư phạm, đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên [26]. Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục đã nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng giáo viên đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch, quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên, đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về xây dựng đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường mà tác giả đang hoạt động để từng bước củng cố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người mang ý nghĩa quyết định, mang tính chất sống còn của các chủ thể tham dự vào các hoạt động xã hội. Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống để đạt được các mục đích đã định [12]. Tác giả Trần Khánh Đức cho rằng: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất” [13].