phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có cấu trúc trong gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho giáo viên trong dạy học tại các trường THCS trong bối cảnh chuyển đổi số. Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản lý phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho giáo viên trong dạy học tại các trường THCS trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh chuyển đổi số. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho giáo viên trong dạy học tại các trường THCS trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh chuyển đổi số. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO GIÁO VIÊN TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC THCS TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về phát triển năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường THCS Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả chất lượng GD&ĐT sẽ là yếu tố sống còn và quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Việc áp dụng những 5 công nghệ mới vào giáo dục trong đó có CNTT chính là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục.
Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà quản lý giáo dục là: Làm thế nào để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học. Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu các biện pháp quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục đã thực sự sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT như: Nước Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,. Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hóa cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục.
Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khóa để xây dựng và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục,. Trong xu thế hội nhập toàn cầu, Việt Nam cũng đã có chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000) và chương trình công tác về tuyên truyền ứng dụng CNTT (2018-2023); Quyết định số 1282/QĐ-BGDĐT ngày 10/5/2022 Ban hành kế hoạch tăng cường ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong GD&ĐT giai đoạn 2022-2025; Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/1/2022 của thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án tăng cường ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong GD&ĐT; Thông tư 09/2021/TT-BGDĐT ngày 30/3/2021 của Bộ GD&ĐT quy định về quản lý và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên. Chỉ thị 58/CT - TƯ ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh 6 ứng dụng phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu rõ việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT.
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị 29/2001/CT-BGDĐT, ngày 30/7/2001, nêu rõ: Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối internet đến tất cả các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục (EduNet) nhằm tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giai đoạn 2001-2005 và chỉ thị 55/2008/CT-BGDĐT ngày30/9/2008, nêu rõ: Tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012. Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu học tập các nước về quản lý ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục để áp dụng ở Việt Nam nhưng không nhiều. Những nghiên cứu về quản lý phát triển năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường THCS - Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT&TT “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006. - Nguyễn Văn Tuấn “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý dạy học tại các trường THPT”, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục - ĐHSPHN, (2006).
- Phạm Văn Vương “Quản lý hoạt động dạy - học trong môi trường phát triển công nghệ thông tin truyền thông ở các trường Trung học cơ sở huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục trường Đại học Giáo dục, (2012); 1. Nhận xét chung về các công trình nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo Qua các nghiên cứu các tác giả đều khẳng định ý nghĩa của việc 7 ứng dụng CNTT vào dạy học và vai trò quan trọng của các biện pháp quản lý. Qua đó các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý như Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT trong việc triển khai một số biện pháp đánh giá năng lực ứng dụng CNTT vào dạy học tại các trường THCS thuộc phạm vi quản lý. Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học tại các trường THCS là một vấn đề cấp thiết nhưng chỉ được nghiên cứu dưới góc độ hẹp.
Thực tế ở Việt Nam việc đưa CNTT vào quản lý các hoạt động nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết, trong đó công tác đánh giá năng lực ứng dụng CNTT trong các nhà trường chưa được các tác giả đi sâu nghiên cứu. Vì thế tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường THCS thuộc huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ nhằm hy vọng đề xuất được một số biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học trong các trường THCS ở địa phương hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường * Quản lý: Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, tùy theo phương thức, cách thức tiếp cận mà khái niệm quản lý đã được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Nhưng đều đi đến một khái niệm chung và khẳng định quản lý là hoạt động gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là quá trình lựa chọn những tác động lên khách thể quản lý nhằm đảm bảo cho một hoạt động chung nào đó có kết quả mong muốn. Chủ thể quản lý cần biết sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động lên đối tượng bị quản lý, sao cho đảm bảo sự cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển bộ máy. 8 Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (Chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (Lãnh đạo) và kiểm tra. * Quản lý giáo dục: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác GD&ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động. Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý. Mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD”; “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt được mục tiêu giáo dục đề ra”. * Quản lý nhà trường.
Nhà trường là một đơn vị cơ sở trong cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân, nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên biệt, nơi chủ yếu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của giáo dục. Quản lý nhà trường được các chủ thể quản lý và các cấp thực hiện một cách khoa học với các kế hoạch hoạt động, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá để thực hiện các chức năng của nhà trường trên cơ sở những đặc điểm giáo dục trong nhà trường. Quản lý nhà trường là “những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật, là quá trình xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch hoạt động của nhà trường, tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục học sinh thông qua huy động, sử dụng các nguồn lực, giám sát, đánh giá trên cơ sở tự chủ, có trách nhiệm giải trình để phát triển nhà trường theo sứ mạng, tầm nhìn và mục tiểu…”. Công nghệ thông tin Theo Từ điển triết học, công nghệ thông tin: là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý 9 thông tin.
Như vậy, “CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người”. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin (tiếng Anh là: Information technology gọi tắt là IT) là ngành ứn g dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhập thông tin Công nghệ thông tin là một nhóm ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập. Công nghệ thông tin là một hệ thống bao gồm các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người” 1.