Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học Theo Finger & Trinidad (2002), CNTT có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để hỗ trợ giáo viên và học sinh thực hiện hoạt động dạy và học. Việc sử dụng video giáo dục, cơ sở dữ liệu, phần mềm có thể giúp giáo viên và học sinh triển khai sơ đồ tư duy, khám phá các kiến thức cũng như triển dạy và học trực tuyến cung cấp nhiều cách thú vị khác nhau bao gồm sẽ tạo nên quá trình học tập trọn vẹn và ý nghĩa hơn [30].
Các nghiên cứu cũng khẳng định CNTT giúp giáo viên thiết kế kế hoạch bài học của họ theo cách tiếp cận hiệu quả, sáng tạo và thú vị, giúp học sinh học tập tích cực học tập và học sinh sẽ có sự gia tăng kiến thức hiệu quả từ việc tổ chức các hoạt động thực hành dựa trên công nghệ. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng việc dạy học trực tuyến sẽ nâng cao quá trình học tập và phát huy tối đa khả năng học tập tích cực của học sinh [30]. Hermans, Tondeur, Van-Braak, và Valcke (2008) đã xác định ba giai đoạn chính để CNTT được giáo viên đánh giá cao và đánh giá cao; tích hợp, tăng cường và bổ sung. Tích hợp là triển khai sử dụng đúng CNTT trong lĩnh vực, chủ đề dạy học cụ thể, có liên quan đến các khái niệm và kỹ năng phức tạp để cải thiện thành tích và trình độ của học sinh.
Tăng cường là sử dụng CNTT để nhấn mạnh vào chủ đề được giới thiệu. Chẳng hạn, Microsoft PowerPoint có thể được sử dụng để trình bày chủ đề theo một cách rất đổi mới và sáng tạo sẽ dẫn đến thảo luận và trao đổi ý kiến cũng như suy nghĩ. Cuối cùng, bổ sung là khi CNTT được sử dụng để hỗ trợ việc học tập của học sinh, cho phép học sinh làm việc có tổ chức và hiệu quả hơn, trong đó họ có thể lấy ghi chú từ máy tính, gửi bài làm của mình qua email từ nhà, miễn là họ đáp ứng thời hạn và tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau được cung cấp trực tuyến để hoàn thành nhiệm vụ được giao [29], [32]. 8 Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” (2006), tác giả Trần Kiểm đã cung cấp một số vấn đề cơ bản khoa học quản lý giáo dục trước xu thế phát triển hiện nay, đồng thời tác giả nhấn mạnh: Một trong bảy xu thế lớn của giáo dục thế giới trong thế kỷ XXI là: “Áp dụng rộng rãi CNTT - một hướng đổi mới giáo dục có hiệu quả”; vai trò của CNTT đã “Tác động của CNTT đối với lĩnh vực giáo dục đang tạo ra một cuộc cách mạng về giáo dục mở” [19, tr.
Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2009) trong cuốn: “Quản lý giáo dục” nhấn mạnh CNTT là công cụ của hệ thống thông tin, là “nền” của quản lý GD trong nhà trường; công cụ CNTT sẽ là phương tiện để xử lý, chọn lọc thông tin cho hoạt động quản lý và quản lý đào tạo trong nhà trường; cần phải ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng hiệu quả quản lý, chỉ rõ một trong những phương tiện của công nghệ hiện đại là ứng dụng CNTT vào quản lý [15, tr. Ngoài ra các tác giả Nguyễn Thanh Bình (2006) [3], Nguyễn Sỹ Đức, Đặng Thành Hưng (2007) [11], Đỗ Mạnh Cường (2008) [9], Nguyễn Hải Dũng (2016) [28]… các nghiên cứu tuy ở các khía cạnh và môi trường khác nhau nhưng nội dung của nghiên cứu đều khẳng định vai trò của CNTT trong dạy học và dạy học ở trường THCS. Các nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học Các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý hoạch định chính sách đều thống nhất về những giá trị của ứng dụng CNTT vào dạy học, bao gồm cả việc dạy học trực tuyến đối với nhà trường, giáo viên và học sinh. Dudeney (2010) lưu ý rằng các chính sách CNTT quốc gia có thể đưa ra các mục tiêu và tầm nhìn về cách vận hành của các hệ thống giáo dục nếu CNTT được tích hợp vào quá trình dạy và học, và chúng mang lại lợi ích cho học sinh, giáo viên, phụ huynh và người dân nói chung của một quốc gia nhất định.
Hennessy, Ruthven, & Brindley (2005) đã nghiên cứu về vấn đề này ở Malaysia: Bộ Giáo dục Malaysia đã xây dựng ba chính sách chính cho CNTT trong giáo dục. Chính sách thứ nhất nhấn mạnh rằng tất cả học sinh đều có cơ hội sử dụng CNTT. Điều này nhằm mục đích giảm khoảng cách mức độ ứng dụng CNTT giữa các trường. Chính sách thứ hai tập trung vào vai trò và chức năng của CNTT trong 9 giáo dục.
Chính sách thứ ba nhấn mạnh vào việc sử dụng CNTT để truy cập thông tin, truyền thông và như một công cụ cải thiện hiệu suất học tập (Chan, 2002). Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị CNTT sau đó là cần thiết để cung cấp cho các trường học trên toàn quốc. Một yếu tố quan trọng trong việc sử dụng CNTT là có đủ phòng máy tính và thiết bị CNTT. Điều này nhằm đảm bảo rằng giáo viên có thể dễ dàng truy cập vào các công cụ CNTT bất cứ khi nào cần [31], [33].
Trần Minh Hùng (2012) trong đề tài luận văn tiến sĩ về “Quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học trường THPT” đã chỉ ra rằng: Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THPT giữ một vai trò quan trọng và quyết định đến chất lượng của mọi hoạt động, đồng thời tác giả còn nghiên cứu về thực trạng chỉ ra những hạn chế và những mâu thuẫn trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT, đề xuất những Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy và học [17]. Vấn đề quản lý ứng dụng các hoạt động giáo dục trong trường THPT được tác giả Nguyễn Thanh Giang (2015) viết trong luận văn tiến sĩ: “Quản lý ứng dụng CNTT ở trường THPT vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam”. Tác giả xây dựng cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT ở trường THPT; có những đánh giá chung về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT ở trường THPT vùng Đông Nam Bộ từ đó tác giả đưa ra hệ thống Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT ở trường THPT vùng Đông Nam Bộ [12]. Về vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở cơ sở giáo dục, tác giả Phạm Thị Lệ Hằng (2018) với đề tài luận văn tiến sĩ về “Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường THCS, trên cơ sở đó đề xuất Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường THCS thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 10 THCS hiện nay [14].
Khi bàn về các biện pháp cho ứng dụng CNTT trong dạy học và các định hướng nghiên cứu cho tương lai, nhiều hội thảo khoa học được tổ chức, điển hình là: Hội thảo “Các biện pháp công nghệ và quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục” được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 [27]; Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT vào đổi mới dạy - học” do Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội phối hợp với Dự án Giáo dục Đại học tổ chức tháng 12/2006 tại trường Đại học sư phạm Hà Nội [27]; Hội thảo Khoa học toàn quốc: Ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục và dạy học” tháng 4/2014 tại trường Đại học sư phạm Đà Nẵng. Hội thảo “Chính phủ điện tử ngành giáo dục và đào tạo, Công nghệ thiết kế bài giảng E-Learning” do Cục Công nghệ Thông tin - Bộ GD&ĐT tổ chức 11/2017 [5]. Khi Đại dịch Covid-19 xuất hiện và ảnh hưởng tới nền giáo dục, Chính phủ các nước đã ban hành nhiều chính sách để khuyến khích đào tạo trực tuyến. Tại Canada, Bangladesh và Mauritius, việc học tập dựa trên công việc, học nghề hoặc nội dung thực hành đã được chuyển giao một phần thông qua các nền tảng trực tuyến và cũng đang phát triển các gói đào tạo trực tuyến.
Bắc Mỹ ứng dụng e- learning để biến đổi mô hình học tập truyền thống. Số lượng học sinh trong giáo dục truyền thống được dự đoán sẽ giảm 2 triệu trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2030. Tuy nhiên, sự thiếu hụt sẽ được bù đắp khi số học sinh đăng ký học trực tuyến tăng 18 lần, dự kiến sẽ tăng đến gần 6 triệu vào năm 2030, chiếm gần một phần tư thị trường giáo dục. Nghiên cứu của GeSI cho thấy ở Bắc Mỹ, e- learning cuối cùng sẽ cắt giảm hơn 5.000 đô/năm/học sinh vào năm 2030.
E- learning cũng được áp dụng trong đào tạo nghề: khoảng 10% các công ty sử dụng các khóa học trực tuyến mở rộng (MOOCs) để đào tạo nhân viên của họ nhằm nâng cao tiếp cận giáo dục nhờ công nghệ số, đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng số, và dự kiến sẽ tăng thêm khoảng một phần ba vào năm 2030 [34]. Từ những nghiên cứu trên cho thấy việc quản lý ứng dụng CNTT đã được triển khai nghiên cứu ở các trường phổ thông, cao đẳng và Đại học. Các công trình nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT ở trường THCS trong 11 giai đoạn đổi mới giáo dục và đào tạo, theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 và triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 còn chưa nhiều. các nghiên cứu chưa đi sâu vào việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường THCS và ở các vùng miền có điều kiện và hoàn cảnh khác nhau.
Một số công trình nghiên cứu ở cấp độ đề tài, luận văn thạc sĩ cũng chỉ mới đề xuất những biện pháp quản lý chung để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học và ứng dụng CNTT trong dạy học. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Dạy học Các nhà nghiên cứu về giáo dục cho rằng dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người.