Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CẤP THCS Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Ngữ văn cấp THCS ở các trường Tiểu học và Trung học cơ sở Hiện nay, trên thế giới việc ứng dụng những tiến bộ khoa học, CNTT vào lĩnh vực GD&ĐT rất được quan tâm, bởi những tiện ích và hiệu quả của nó đem lại. Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung và trong dạy học nói riêng đã được các tổ chức và các nhà khoa học nghiên cứu: Tác giả Peter Van Gils trong cuốn: CNTT trong giáo dục, (2004) đã nhấn mạnh vai trò của CNTT như một phương tiện trợ giảng, CNTT khuyến khích sự tham gia học tập của HS và góp phần nâng cao kết quả học tập, từ đó đưa ra các cách tổ chức thực hiện ứng dụng CNTT trong lớp học theo từng cấp học, ngoài ra: “Hơn thế nữa CNTT còn tạo ra một chiều hướng mới, bổ sung vào quá trình học tập suốt đời: con người có thể tự học với sự trợ giúp của một chiếc máy vi tính” [46].
Các giả Voogt, Joke, Knezek, Gerald Eds,trong cuốn: “Cẩm nang quốc tế về CNTT trong các trường tiểu học và trường THCS” (2008), được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho GV, giảng viên, CBQL các trường, các quản trị viên và điều phối viên CNTT và truyền thông Bộ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong tài liệu trình bày các mô hình và các khuôn khổ bao gồm các nội dung mà e-learning đã giúp chúng ta đưa ra các giai đoạn hội nhập CNTT và truyền thông (ICT) và các hệ thống giáo dục đã đạt được; cách thức học tập tổng hợp và kỹ năng tư duy bậc cao, cách thay đổi môi trường học tập; mô tả cách thức hỗ trợ GV trong việc chuyển đổi và cải cách giáo dục [50]. 9 Trong nghiên cứu đánh giá về hiệu qủa của đào tạo, bồi dưỡng GV trực tuyến đã cho thấy nó hỗ trợ GV cơ hội sử dụng CNTT, giúp GV nâng cao kỹ năng cơ bản về CNTT để sử dụng trong học tập và làm việc [42]. Bên cạnh đó những nghiên cứu này cũng đã cho thấy những kết quả đáng quan tâm đối với các nhà giáo dục trong việc nghiên cứu ứng dụng E-learning vào trong đào tạo, bồi dưỡng GV.
Trong năm 2000, Shazia Mumtaz đã viết các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CNTT của GV: Các nghiên cứu cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng CNTT của GV trong lớp học như: quyền truy cập vào tài nguyên, chất lượng phần mềm và phần cứng, dễ sử dụng, khuyến khích sự thay đổi, chính sách hỗ trợ của chính quyền và chính sách quốc gia, cam kết học tập chuyên nghiệp và nền tảng trong đào tạo máy tính chính thức. Tổng quan đánh giá cho thấy niềm tin của GV về việc dạy và học với CNTT là trọng tâm của nghiên cứu. Có ý kiến cho rằng việc triển khai thành công CNTT cần giải quyết ba khung liên kết để thay đổi: GV, nhà trường và các nhà hoạch định chính sách [47]. Năm 2001, các tác giả Kai Hakkarainen, Hanni Muukonen, Lasse Lippenen, Liisa llomaki, Maiaana Rahikinen đã nghiên cứu về kỹ năng ứng dụng CNTT của GV.
Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có một tỷ lệ nhỏ GV có kỹ năng CNTT đầy đủ mặc dù đa số đã làm việc với máy tính ở nhà hoặc ở trường. Nghiên cứu cũng chứng minh rằng, trong lớp học, các GV tích cực sử dụng CNTT để hỗ trợ quá trình tìm kiếm, học tập hợp tác, học hỏi 'tham gia tích cực vào quá trình hình thành kiến thức và khả năng học hỏi phát triển trí thông minh. Hơn nữa, kết quả đã chứng minh rằng sự khác biệt về năng lực sư phạm giữa các GV thường xuyên ứng dụng CNTT trong tìm kiếm kiếm và thực hành sư phạm cao các GV khác [40]. Tác giả Đào Thái Lai đã nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ “Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” (2006), đã chỉ ra những phương pháp tiếp cận mới về hình thức tổ chức dạy học có ứng dụng CNTT, đồng thời đề xuất những biện pháp tận dụng tối đa các tiện ích mà CNTT mang lại trong dạy học.
Đây là những định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học ở phổ thông và các yếu tố CNTT cần ứng dụng trong dạy học ở phổ thông [17]. 10 Các tác giả Cher Ping Lim; Ching Sing Chai; Daniel Churchill trong cuốn: Các mô hình ứng dụng CNTT trong giáo dục hiện đại (2010) đã đưa ra nhận xét: “Mặc dù đã có nhiều bằng chứng cho thấy CNTT có tiềm năng lớn trong việc cải thiện chất lượng dạy và học cũng như việc tiếp cận CNTT ngày càng dễ dàng hơn, đa số GV trên thế giới ngày nay vẫn chưa sử dụng công nghệ thành thạo hay thường xuyên để có thể khai thác tiềm năng của nó” [42]. Để đánh giá trình độ tích hợp CNTT phục vụ cho giảng dạy của các GV, cần dựa trên bốn phương diện, đó là: khả năng sử dụng CNTT, thái độ và niềm tin đối với việc sử dụng CNTT, lý luận sư phạm và việc sử dụng CNTT trong thực tế. Torok (2007) [49], theo tác giả xây dựng công cụ đo lường quá trình tích hợp CNTT trong dạy học, gồm các yếu tố: Năng lực CNTT của GV; Truy cập CNTT của GV tại nhà và tại trường; Thái độ và mức độ tham gia của GV trong sử dụng CNTT.
Lloyd (2014) [43], cho rằng phát triển năng lực CNTT là điều kiện cần thiết cho một GV tương lai có thể hành nghề trong một môi trường học tập kỹ thuật số và tác giả đã có đề xuất thiết kế chương trình đào tạo GV phải được đánh giá để đạt chuẩn nghề nghiệp GV, trong đó yếu tố CNTT được đánh giá trong kế hoạch giảng dạy, sử dụng tài nguyên số và độ an toàn trong dạy học. Tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn trong cuốn sách “Ứng dụng CNTT trong dạy học tích cực” (2008), đây là công trình tương đối hoàn chỉnh về ứng dụng CNTT trong dạy học. Cá tác giả đã giới thiệu cách khai thác, sử dụng các tiện ích của CNTT cho việc thực thi các PPDH tích cực như khai thác thông tin, soạn giáo án có ứng dụng CNTT, sử dụng máy tính để tổ chức các hoạt động dạy theo hướng phát huy tính tích cực của người học, cách sử dụng hiệu quả giáo án có ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học tích cực [9]. Bài viết: “Ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới PPDH” của hai tác giả Trần Đình Châu và Đặng Thị Thu Thủy, bài viết đã đề xuất một số vấn đề liên quan đến ứng dụng CNTT trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số biện pháp ứng dụng CNTT đổi mới PPDH [4].
Trong cuốn sách “Ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH các môn khoa học xã hội - nhân văn ở các trường quân sự” (2002), tác giả Trần Đình Tuấn đã nhấn mạnh 11 vai trò đặc biệt của việc ứng dụng CNTT trong dạy học. Tác giả đề cập đến những vấn đề chung về ứng dụng CNTT trong GD&ĐT; đồng thời, đưa quan điểm và biện pháp ứng dụng và quản lý CNTT trong nhà trường [29]. Sáng kiến kinh nghiệm của Nguyễn Thị Hải (2012) với tiêu đề “Ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường dân tộc nội trú” đã nhận định: “ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là một hướng đi trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay mà giáo viên nên vận dụng, chính nó sẽ làm cho mỗi giờ lên lớp phong phú hơn. Với môn Ngữ văn, khi ứng dụng công nghệ thông tin đưa các hình ảnh, âm thanh, các đoạn Clip về các nghệ sĩ ngâm thơ, bình thơ… hầu hết các em đều rất thích thú say mê học văn, giờ học nhẹ nhàng hơn, sinh động hơn, lôi cuốn hơn” [8].
Nghiên cứu của Nguyễn Quang Tuấn, Đàm Thị Ngọc Ngà (2013)với nghiên cứu “Một số hình thức ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học môn Ngữ văn trong nhà trường” đã đưa ra các hình thức là: “Giảng dạy bằng bài giảng điện tử; Tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin trên mạng Internet; Tham khảo sách điện tử, giáo trình điện tử; Sử dụng các thiết bị điện tử vào quá trình dạy học; Gửi nhận văn bản bằng thư điện tử. Bài viết nhân định: việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học môn Ngữ văn trong nhà trường là một nhu cầu tất yếu và cấp thiết. Đây chính là một trong những hoạt động cụ thể để đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” [31]. Các tác giả Lã Phương Thúy, Lê Thị Thảo (2022) với công trình “Sử dụng một số phần mềm trong dạy học văn bản nghị luận cho học sinh lớp 6”, đã nêu việc sử dụng phần mềm trong dạy học văn bản nghị luận cho HS lớp 6: Sử dụng phần mềm hỗ trợ thiết kế học liệu trong dạy học văn bản nghị luận (phần mềm Canva); Sử dụng phần mềm quản lí lớp học, tăng cường tương tác trong dạy học văn bản nghị luận (Phần mềm Mentimeter; Phần mềm Padlet); Sử dụng phần mềm hỗ trợ kiểm tra - đánh giá trong dạy học văn bản nghị luận (ứng dụng Classkick).
Việc sử dụng các phần mềm ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học văn bản nghị luận cho HS THCS rất phù hợp với thực tiễn yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Sử dụng CNTT có nhiều ưu điểm trong việc tạo ra các sản phẩm dạy học hiệu quả, hấp dẫn, 12 thu hút HS; hỗ trợ tích cực cho sự tương tác giữa HS và GV; tích hợp được các môn học [28]. Sáng kiến của Lê Thị Kim Lương (2010) với đề tài “Ứng dụng công nghệ nghe nhìn vào dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT” nhấn mạnh đến các ứng dụng CN nghe nhìn cho môn học gồm: “ Sử dụng công nghệ nghe nhìn trong dạy học và trong kiểm tra, đánh giá; Sử dụng công nghệ nghe nhìn trong việc cảm thụ tác phẩm văn chương; Sử dụng công nghệ nghe nhìn trong việc tự học. Với đề tài này, người dạy và người học đều có thể ứng dụng dễ dàng vào các tiết dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THPT.