CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH HOẠT CHUYÊN MÔN DỰA VÀO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu của vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài Hoạt động NCBH đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới nói chung và châu Á nói riêng, trong đó có Việt Nam. Các nước có thể kể đến như: Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc,Singapore, Hồng Kông, Malaysia, Indonesia, Thái Lan… Hoạt động NCBH lần đầu tiên được đưa vào thực hiện ở Nhật Bản với quy mô và quá trình triển khai cho đến nay đã áp dụng trên 3000 trường học (Sato, 2012).
Vào cuối những năm 1990, NCBH được du nhập vào Mỹ và nhanh chóng trở thành một mô hình được áp dụng tương đối có hiệu quả, theo Lewis (2006) ở Mỹ đã có 24 trường đại học có các nhóm NCBH. NCBH bao gồm hai hai hướng phát triển: NCBH vì “cộng đồng học tập” và NCBH thông thường. Thứ nhất nhiên cứu và hướng đến các bài học chuẩn mực, GV áp dục và vận dụng hiệu quả các bài học đó để nâng cao khả năng tiếp thu của HS. Đây là NCBH thông thường.
Hướng thứ hai tập trung cải thiện các mối quan hệ trong nhà trường, nâng cao năng lực chuyên môn của GV phù hợp với nhu cầu hoc tập đa dạng của HS. Đây là NCBH vì “cộng đồng hoc tập”. Hình thức NCBH này được đặt trong một cộng đồng ủng hộ việc học tập đem lại hiệu quả lâu dài, bền vững và lý tưởng nhất với việc phát triển năng lực của GV. Do vậy, NCBH vì “cộng đồng học tập” đang được coi là có ưu thế, phù hợp và hiệu quả hơn ở các trường phổ thông, đặc biệt là đối với các trường THPT ở miền núi.
NCBH cho các cấp học, bậc học khác nhau đã được nhiều tác giả nghiên cứu trong nhiều lĩnh. Các công trình nghiên cứu có thể kể đến của các tác giả như: A. Kopp, Fernandez & Yoshida, Fernandez, Lewis,… các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định NCBH vì “cộng đồng học tập” là biện pháp phù hợp để phát triển năng lực GV, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Về vai trò của cán bộ quản lý trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Từ cấp độ vi mô đến cấp độ vĩ mô, tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống giáo dục phải luôn được vận hành, quản lý hiệu quả, không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng. Các nghiên cứu khoa học gần đây đã mở rộng vị thế, phạm vi cũng như ý nghĩa, lý luận và thực tiễn cụ thể của nó trong quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường học. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ là những nghiên cứu mang tính lý luận, cung cấp phương tiện để kiểm soát các hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo GV, chưa được đề cập chi tiết, phù hợp với tình hình thực tế của nhiều trường. Các công trình nghiên cứu dưới đây đề cập về công tác quản lí hoạt động chuyên môn trong nhà trường nói chung và hoạt động của tổ chuyên môn nói riêng: * Nghiên cứu về quản lí hoạt động của tổ chuyên môn Tác giả Hoàng Phương An (2010) đã xác định rõ vị trí, vai trò của tổ chuyên môn và hiệu trưởng ở trường tiểu học, đồng thời xác định nội dung chuyên môn hiệu trưởng quản lý các hoạt động trên lớp trong nhà trường Tiểu học quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2004) nghiên cứu các trường trung học cơ sở trên địa bàn Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh và đã đưa ra đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động chuyên môn của hiệu trưởng ở các trường này; đề xuất một số biện pháp mà các trường cần thực hiện trong quá trình đổi mới chương trình trung học cơ sở. Tác giả Nguyễn Thị Thắng (2008) nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động chuyên môn các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá [45]. Tác giả Hồ Thị Loan, Lê Thị Cẩm Mỹ (2019), Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học - một giải phát nâng cao chất lượng dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường trung học cơ sở, Tạp chí Giáo dục, Số Đặc biệt Kì 3 tháng 5/2019. Trong đó, Đổi mới phương pháp dạy học cũng như thay đổi cách thức sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường phổ thông là điều cần thiết để đáp ứng mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới.
Bài viết đề cập hình thức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học. Với hình thức này, GV sẽ được nâng cao năng lực chuyên môn, giúp HS học tập một cách thực sự, mang lại hiệu quả cao cho giờ học [32]. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lưu Thị Thanh Hảo (2017) đã nghiên cứu Quản lý hoạt động ở tổ chuyên môn trong các trường THPT Trung Giã – Sóc Sơn – Hà Nội theo hướng nghiên cứu bài học, Trường ĐH Giáo dục - ĐHQG Hà Nội. Trong đó, nghiên cứu đã đề xuất một hướng hành động để quản lý hoạt động của tổ chuyên gia và từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường theo hướng đổi mới [23].
Trên đây là những công trình nghiên cứu chi tiết các vấn đề quản lý hoạt động chuyên môn nảy sinh trong nhà trường ở các bậc học khác nhau cũng như ở từng vùng khác nhau. Các công trình nghiên cứu này đã giải quyết một số vấn đề trong quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động chuyên môn nói riêng phù hợp với bậc học và khu vực được đề cập đến trong công trình. Tuy nhiên, các biện pháp mà tác giả chỉ ra trong nội dung bài viết không phải lúc nào cũng phù hợp và phục vụ cho việc khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập của công tác quản lý nhà trường ở những địa phương khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Quản lý sinh hoạt chuyên môn dựa vào nghiên cứu bài học tại trường THPT Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn” là thực sự cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Một số khái niệm 1. Quản lí Hoạt động quản lí xuất hiện từ rất sớm khi con người biết phối hợp với nhau để đáp ứng những nhu cầu cụ thể và những mục tiêu cụ thể. Tuy nhiên cho đến nay, khía niệm quản lí được nhiều nhà khoa học quản lí diễn đạt khác nhau. Theo Harold Koontz trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý (1994) thì: Quản lý là hoạt động chính yếu đảm bảo phối hợp các nỗ lực cá nhân để đạt được mục tiêu của nhóm” [26].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –Lê nin đã khẳng định: “Bất cứ hoạt động xã hội hoặc cộng đồng trực tiếp trên quy mô tương đối lớn đều đòi hỏi phải có sự quản lý” [15]. Quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam về quản lý như sau: Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và cộng sự (2010): “Quản lý là quá trình bao gồm các bước lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và quản lý công việc của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Theo quan điểm của tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “Quản lý là quá trình có tổ chức và định hướng nhằm lựa chọn trong số các tác động có thể xảy ra và cho phép chúng phát triển theo hướng đã định, dựa trên thông tin về trạng thái của đối tượng được ổn định. Như vậy, khái niệm quản lý được đưa ra các định nghĩa khác nhau theo các góc nhìn, qua điểm khác nhau.
Qua quan nghiên cứu và tìm hiểu những định nghĩa trên, tác giả đề tài quan niệm quản lý như sau: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”. Quản lí giáo dục Từ những quan điểm được trình bày ở trên về quản lý, chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí tới khách thể quản lý nhằm làm cho các hoạt động sư phạm được thực hiện theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất - đạt đến trạng thái mới về chất. Chủ thể quản lý giáo dục tác động đến khách thể quản lý giáo dục một cách có ý thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra và chính các mục tiêu quản lý lại tham gia vào sự quy định bản chất của quản lý giáo dục. Trong hệ thống giáo dục, con người luôn đóng vai trò trung tâm trong mọi hoạt động.
Con người vừa là đối tượng điều khiển, vừa là chủ thể. Con người là yếu tố quan trọng nhất trong quản lý giáo dục, bởi mọi hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục đều nhằm giáo dục và xây dựng nhân cách cho thế hệ trẻ. Quản lí nhà trường Ở nước ta, trường học là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ. Do đó, quản lí nhà trường là quản lý giáo dục trong khuôn khổ xác định của cơ sở giáo dục là nhà trường.
Trường học là cơ quan chuyên trách xây dựng con người mới, được trang bị nội dung giáo dục được chọn lọc và tổ chức có hệ thống, phương pháp giáo dục khoa học và đã được kiểm chứng, phương tiện và công cụ đa dạng, điều kiện giáo dục hiệu quả cao, đội ngũ nhà giáo và chuyên gia có nhân cách mẫu mực, được trang bị đầy đủ tri thức chuyên môn, nghiệp vụ. Hoạt động trung tâm của nhà trường là dạy học và giáo dục (theo nghĩa hẹp). Như vậy, quản lý nhà trường tức là quản lý quá trình dạy học, quả lý các thành phần tham gia quá trình giáo dục, bao gồm GV và HS. Về cơ bản, quản lý giáo dục khác biệt với quản lý ở các lĩnh vực khác.