CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CỦA TỔ TRƯỞNG TỔ CHUYÊN MÔN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Xã hội càng phát triển thì giáo dục càng được quan tâm nhiều hơn. Việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới.
Chẳng những đối với các nhà giáo dục học mà cả những nhà kinh tế học, xã hội học cũng đã thấy rõ vai trò, động lực của giáo dục trong phát triển và phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Do vậy vấn đề quản lý giáo dục khoa học, có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng quan trọng. Quản lý giáo dục cơ bản là là quản lý các quá trình dạy học, quá trình giáo dục và quản lý con người. Cuối thế kỷ XVII, vấn đề hoạt động DH được nhiều nhà GD quan tâm nghiên cứu.
Trong thời kỳ đó có thể kể một số xu hướng tiêu biểu là: Cômenki (1592 - 1670), ông đã đưa ra quan điểm GD phải thích ứng với tự nhiên. Theo ông, quá trình DH để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép HS chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc DH có giá trị lớn đó là: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của HS; DH phải thiết thực; DH theo nguyên tắc cá biệt. Vì vậy, việc quản lý giáo dục cần đi vào cụ thể, chuyên môn sâu… 7 Ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ vốn có nền giáo dục phát triển các tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến khoa học quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng như: Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) – Mỹ; Henry Fayol (1841- 1925) - Pháp; Max Weber (1864 – 1920) - Đức, đều đã cho rằng QL là khoa học và đồng thời là cũng là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trước đây nhấn mạnh rằng: Kết quả quá trình quản lý nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn, hợp lý các hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên.A Xukhômlinxki (1918-1970) - Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô, trong tác phẩm “Kinh nghiệm lãnh đạo của hiệu trưởng” ông đã đưa ra nhiều tình huống QL giáo dục, trong đó tác giả bàn nhiều về cách thức thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình và hình thức, phương pháp dạy học… Đó là những yếu tố cơ bản của QL QTDH.
Xukhômlinxki nhấn mạnh vai trò của cán bộ QL nhà trường và đưa ra những kinh nghiệm có giá trị về QL QTDH, giáo dục trong nhà trường phổ thông. Tóm lại những công trình nghiên cứu về QL hoạt động DH và QL QTDH ở nước ngoài có giá trị cả về lý luận và thực tiễn cho đến ngày nay. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta, nhiều nhà QL GD đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc QL QTDH, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng DH trên lớp đối với việc nâng cao chất lượng GD. Những ưu điểm và nhược điểm của việc QL hoạt động DH trên lớp, bản chất và mối quan hệ giữa QL hoạt động dạy và hoạt động học, QL vai trò của người dạy và người học, QL đổi mới nội dung và cách thức tổ chức tiến hành các hình thức tổ chức DH trên lớp, như các tác giả: Trần Kiểm [24], Hà Thế Ngữ [28]… 8 Trong những năm gần đây đứng trước nhiệm vụ đổi mới GD&ĐT nói chung và đổi mới hoạt động DH nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu trong đó có những nhà GD, tâm lý học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới QL QTDH nhằm nâng cao tính hiện đại, gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy HS làm trung tâm trong hoạt động DH như tác giả: Phạm Viết Vượng [ 38].
Có thể nói vấn đề QL GD nói chung và QL QTDH từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Ngày nay, vấn đề này càng được quan tâm nhiều hơn và trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt của các nhà nghiên cứu GD, ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung có thể thấy trong các công trình nghiên cứu của họ là: Khẳng định vai trò quan trọng của công tác QL trong dạy và học. Hiện nay, QL QTDH là một vấn rất được quan tâm, tiếp tục được nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này như: tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Kiểm, Hồ Ngọc Đại, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Quốc Bảo, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Ngọc Bảo, Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng…, đã đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện về vai trò, vị trí, nhiệm vụ, tổ chức QTDH.
Các nhà sư phạm đã tập trung nghiên cứu những vấn đề như: Những ưu điểm và hạn chế của quá trình tổ chức dạy học trên lớp, sự nhận thức về bản chất của QTDH, mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, vai trò của người dạy và người học, sự đổi mới hiện nay về nội dung và những phương pháp tổ chức dạy học trên lớp, trang thiết bị cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học, biện pháp QL hoạt động dạy học trên lớp. QL QTDH là nhiệm vụ của nhà QL giáo dục. Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD của một số tác giả tác giả Châu Hoàng Dũng với đề tài “Nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT huyện 9 Càng Long, tỉnh Trà Vinh”; tác giả Nguyễn Duy Thịnh với đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trưởng THPT Nam Lương Sơn tỉnh Hòa Bình” (2007); tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh với đề tài “Quản lý quá trình dạy học của tổ trưởng tổ chuyên môn ở các trường THCS huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp”(2017); tác giả Phạm Hoàng Phương với đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường THPT huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây”; Các đề tài chủ yếu nghiên cứu về vấn đề dạy học và hoạt động dạy học, việc nghiên cứu về QL QTDH của tổ trưởng TCM còn ít. Vì vậy, tác giả luận văn chọn đề tài : “Quản lý quá trình dạy học của tổ trưởng tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang” làm luận văn thạc sĩ.
Một số khái niệm 1. Quản lý QL là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bàn thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa QL từ các góc độ khác nhau: Theo Đặng Quốc Bảo - Bùi Việt Phú: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung” [3]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [16].
1 Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến" [31]. 10 Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến”. [25] Như vậy QL là sự tác động của chủ thể QL đến khách thể QL một cách có định hướng, có chủ định nhằm làm cho tổ chức vận hành, đạt mục tiêu mong muốn bằng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Các tiếp cận về QL, trong các khái niệm QL gồm có ba yếu tố: chủ thể QL và khách thể QL và mục tiêu QL.
Chủ thể QL là tác nhân tạo ra các hoạt động, còn khách thể là người chịu sự QL của chủ thể QL. Mục tiêu QL là những yêu cầu, kết quả cần đạt. Giữa chủ thể QL và khách thể quản lý có chung một mục tiêu và quy trình, dựa vào đó làm căn cứ để chủ thể tạo ra tác động. Luôn có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
Chủ thể tác động đến khách thể bằng công cụ và phương pháp phù hợp, có hiệu lực và hiệu quả. Sơ đồ 1: Cấu trúc hệ thống quản lý 1. Chức năng của quản lý 11 Chức năng QL là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể QL nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa hoạt động QL nhằm thực hiện mục tiêu. Quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức.
Như vậy, theo cách phân loại hiện nay, chức năng quản lý bao gồm các chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Chức năng kế hoạch: là quá trình xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và quyết định các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Chức năng này gồm có ba nội dung chủ yếu: Xác định, lựa chọn mục tiêu đối với tổ chức; xác định và đảm bảo các nguồn lực để đạt được các mục tiêu; quyết định hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. Chức năng tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.