phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, Luận văn được xây dựng thành ba chương. Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận của đề tài về quản lý chuyên môn của HT các trường THCS trên địa bàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động quản lý chuyên môn ở các trường THCS của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang hiện nay. Chƣơng 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHUYÊN MÔN CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Vấn đề giáo dục và đổi mới giáo dục đã được các tổ chức, các nhà giáo dục, các nhà quản lý giáo dục nói đến từ lâu. Việc nghiên cứu các tài liệu về giáo dục trong nước và trên thế giới cho thấy vấn đề chất lượng giáo dục luôn là mối quan tâm hàng đầu. Việc nâng cao CLGD và công tác quản lý giáo dục, đặc biệt là công tác quản lý chuyên môn trong nhà trường đóng vai trò hết sức quan trọng.
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nhiều bài học kinh nghiệm về các biện pháp quản lý chuyên môn ở trường phổ thông là cực kỳ quan trọng. Việc tìm ra biện pháp QLCM của HT vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, bởi đó là công việc phải làm thường xuyên và liên tục. Trong một số công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành quản lý và tổ chức công tác văn hóa, giáo dục bước đầu tổ chức nghiên cứu thực trạng và hệ thống được một số vấn đề quản lý cũng như đề xuất một số biện pháp quản lý trường học như đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của Hiệu trưởng ở các trường THPT thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây của Nguyễn Sỹ Khiêm” (2002); “Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý chuyên môn cho Hiệu trưởng các trường THCS huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội của Trần Thị Vương” (2003); “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS huyện Đông Sơn - Thanh Hóa của Lê Thị Hải” (2003);…Các công trình nghiên cứu đã giới thiệu về mặt lý luận và thực tiễn các vấn đề về QLCM cũng như QLHĐDH. Nhưng các đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số biện pháp QL nói chung của một cấp học, một hoạt động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 giáo dục của trường học.
Trong khi đó thực tiễn luôn nảy sinh những vấn đề mới cần tổ chức nghiên cứu, đòi hỏi các nhà khoa học, người Hiệu trưởng QLCM ở trường THCS quan tâm, tổ chức nghiên cứu sao cho phù hợp với môi trường và đối tượng QL hiện nay một cách sâu sắc. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ 1. Ý nghĩa của công tác quản lý Quản lý được xe m là một dạng hoạt động đặc biệt của con người , hoạt động tổ chức có ý thức và mang tí nh chất tập thể xã hội. Mọi hoạt động của con người dù là cá nhân hay tập thể , dù là trực tiếp hay gián tiếp luôn luôn mang tí nh c hất tập thể – xã hội và hướng tới những giá trị xã hội nhất định.
Do vậy , mọi hoạt động của cá nhân luôn luôn được điều chỉnh bở i các chế ước xã hội như : Quy tắc hành vi , chuẩn mực đạo đức , pháp quyền…v à chịu sự QL của xã hội. Công tác QL tạo ra sự điều hòa hoạt động của các thành viên trong tập thể – xã hội. Khi xã hội thay đổi thì phương thức quản lý cũng thay đổi theo. Chính vì vậy mà ngay từ buổi bình minh của lịch sử nhân loại , con người đã sớm biết quy tụ để tồn tại và phát triển theo một đị nh hướng với những mục tiêu xác đị nh , và từ hơn hai nghìn năm trước đây vai trò của người QL đã được Khổng Tử đề cao, người QL mà chính trực thì không cần phải tốn nhiều công sức mà vẫn khiến được người ta làm theo.
Sau này Các Mác đã đánh giá vai trò của người QL như một nhạc trưởng , người nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình , còn dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng. “Quản” là một quá trình bao hàm hai khái niệm là coi sóc và gìn giữ nhằm duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định. “Lý” là quá trình bao hàm các khái niệm, như sửa sang, sắp xếp, đổi mới nhằm đưa hệ thống vào thế phát triển. Hai quá trình trong hoạt động quản lý đan quyện vào nhau, tương tác lẫn nhau trong quá trình phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Nếu nhà quản lý chỉ lo việc “Quản” thì tổ chức đi tới chỗ trì trệ, bảo thủ, nhưng nếu chỉ lo việc “Lý” không thôi thì tổ chức hay hệ thống sẽ rơi vào thế mất ổn định, mất cân bằng. Chính vì thế mà nhà QL tốt phải là người luôn biết coi trọng cả hai quá trình “Quản” và “Lý”, biết phối hợp chúng với nhau một cách hài hoà cân đối để sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” có “Quản” để có thể duy trì hệ thống luôn ở trạng thái ổn định và phát triển. Quản lý giáo dục với tư cách là một bộ phận của quản lý xã hội cũng đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội , mục tiêu , nội dung , phương pháp…giáo dục luôn thay đổi và phát triển, làm cho công tác quản lý cũng luôn vận động và phát triển.
Như vậy , QL là một nhân tố quan trọng trong năm nhân tố phát triển kinh tế xã hội hiện nay đó là : Vốn, nguồn lực lao động , khoa học kỹ thu ật, tài nguyên và QL. Trong đó QL có vai trò mang tính chất quyết định thành công. Định nghĩa về quản lý Quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó. Từ những nhận định trên, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm về quản lý dưới các góc độ khác nhau: Theo K.Marx thì “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn liền với sự phân công và phối hợp, nhưng khi nói đến sự phân công và phối hợp thì sự chỉ huy thống nhất để đảm bảo sự đồng bộ, ăn khớp trong hoạt động của các bộ phận cấu thành hệ thống, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận này trên cơ sở mục tiêu chung là yêu cầu tất yếu khách quan hết sức cần thiết.
Xét đến cùng thì điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở tổ chức. Chức năng chủ yếu của quản lý là phối hợp các mặt hoạt động của tổ chức và của những người trong tổ chức đó thành một chủ thể” [8, tr. Nhiều nhà nghiên cứu lý luận Liên Bang Nga cho rằng: Quản lý một hệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 thống xã hội là khoa học, là nghệ thuật tác động (của chủ thể quản lý) vào hệ thống, chủ yếu là vào con người, nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định (Aunaful, Kecgienxep, Kondacop) hoặc “Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài chính) nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ với kết quả tối ưu về kinh tế - xã hội” [26, tr. Các tác giả nghiên cứu quản lý phương Tây cũng có những định nghĩa quản lý rất cụ thể như: “Quản lý chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” (H.
“Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu của nhóm. mục tiêu của mọi nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục tiêu của các nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là nghệ thuật, còn các kiến thức về quản lý thì quản lý là khoa học”. Từ những cách tiếp cận khác nhau đó thì thuật ngữ về quản lý đã được các nhà nghiên cứu khoa học ở Việt Nam đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý.
Sau đây là một vài định nghĩa: Theo Từ điển Tiếng Việt (1992) thì: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể, người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công, thực hiện mục tiêu chung” [24]. Theo tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [15]. Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn” [21, tr.
Theo tác giả Hoàng Chung và Phạm Thanh Liêm: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động” [7, tr. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Các yếu tố của quản lý Hoạt động quản lý bao giờ cũng tồn tại với ba yếu tố: - Chủ thể quản lý: Là con người hay tổ chức do con người lập nên, có nhiệm vụ sử dụng các công cụ và phương pháp, đề ra các biện pháp quản lý. Các tác động của chủ thể QL và khách thể có quan hệ trực tiếp với mục tiêu quản lý.
Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.