Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề. Những nghiên cứu ở ngoài nước Năng lực dạy học có vai trò quan trọng đối với một người giáo viên nên các nghiên cứu về năng lực dạy học, bồi dưỡng phát triển năng lực dạy học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Marzano và cộng sự (2014) đã xuất bản cuốn “Marzano center teacher observation protocol for the 2014 Marzano teacher evaluation model”.
Trong đó, mô hình đánh giá GV sẽ dựa trên các chuẩn nghề nghiệp. Từ đó, các trường sẽ có căn cứ để nhận ra những vấn đề mà các GV đang mắc phải và cần thiết phải thực hiện các bước bồi dưỡng, phát triển GV nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn mới cho từng cấp học, từng môn học. Nghiên cứu tập trung phân tích mô hình này hướng tới nâng cao năng lực dạy học cho GV. Tác giả Raja Roy Singh (1991) trong Education for the twenty-first century: “Asia-Pacific perspectives” cho rằng khi chương trình giáo dục thay đổi, các quan điểm cũng cần thay đổi bao gồm thay đổi kiến thức, kỹ năng của GV.
Vị trí, vai trò của GV được xác định lại để từ đó các nhà quản lý giáo dục tìm các biện pháp để phát triển đội ngũ GV thông qua bồi dưỡng, tập huấn cũng như khuyến khích GV tự học tập để phát triển chuyên môn, nghề nghiệp và năng lực nghiên cứu khoa học. Công tác quản lý các hoạt động bồi dưỡng NLDH cho đội ngũ giáo viên cũng được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Theo OECD (1998), việc đổi mới giáo dục chỉ có thể thực hiện hiệu quả bắt đầu từ việc “đổi mới GV”. Nói cách khác, GV phải luôn nâng cao, bồi 7 dưỡng phát triển năng lực dạy học của bản thân bằng nhiều hình thức khác nhau.
Theo Denise Beutel và Rebecca Spooner-Lane (2009) trong “Building mentoring capacities in experienced teachers” (International Journal of Learning, 16(1), pp. 1-10) cho rằng GV được trang bị nhiều kiến thức và kỹ năng khi học ở các trường sư phạm. Tuy nhiên, một số kinh nghiệm và kỹ năng chỉ có thể có được tại nơi làm việc. Các GV có thể nâng cao năng lực dạy học của mình thông qua sự cố vấn của “những người đi trước” hoặc các chuyên gia trong môi trường làm việc.
Chính vì thế, tại các nhà trường, cán bộ quản lý cần chú ý đến vai trò của bồi dưỡng phát triển năng lực dạy học của giáo viên tại chỗ với những cố vấn có kinh nghiệm. Ngoài ra còn có các công trình của các tác giả bàn về vấn đề quản lý hoạt động phát triển năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên như: Felding và Schalock (1985); Glatthorn (1995); Kalelestad và Olweus (1998); Cobb (1999); Tattlo (1999); Loucks-Horsely và Matsumoto (1999); Ganser (2000); Walling và Levis (2000); Cochran-Smith và Lytle (2001); Youngs (2001); Grosso de Leon (2001). Các công trình trên đã nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn và mô hình quản lý phát triển nghề nghiệp giáo viên nói chung; quản lý đào tạo, bồi dưỡng nâng cao NLDH cho giáo viên nói riêng. Như vậy, các công trình của các nhà khoa học trên thế giới đã bàn luận khá sâu sắc vấn đề quản lý của đội ngũ giáo viên và quản lý bồi dưỡng năng lực trong đó có bồi dưỡng phát triển NLDH nói riêng cho đội ngũ giáo viên.
Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, các nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng phát triển năng lực giáo viên cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Phạm Thị Kim Anh (2020) với bài “Phát triển năng lực dạy học cho GV trẻ ở trung học phổ thông qua con đường tự học, tự bồi dưỡng” ở tạp chí HNUE Journal Of Science, Educational Sciences, 2020, Volume 65, Issue 4C. 8 Tác giả chỉ tập trung vào đối tượng GV trẻ và trong lĩnh vực tự học, tự bồi dưỡng. Tác giả cho rằng, để phát triển năng lực dạy học thì điều quan trọng nhất phải từ nhận thức của GV, ý thức tự học sẽ giúp họ nhanh chóng phát triển năng lực bản thân.
Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nâng cao kỹ năng tự học, tự hồi dưỡng của đội ngũ GV trẻ nói chung. Phạm Thị Kim Anh và Bùi Thị Hạnh (2019) đã nghiên cứu “Kinh nghiệm của một số nước ở châu Âu về phát triển năng lực dạy học cho giáo viên trẻ mới vào nghề” ở tạp chí HNUE Journal Of Science, Educational Sciences, 2019, Volume 64, Issue 7, pp. Các tác giả cho rằng các giáo viên trẻ mới vào nghề thường gặp phải nhiều khó khăn vì chưa có kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mới ở mức cơ bản. Vì thế, việc phát triển năng lực dạy học cho GV trẻ mới vào nghề là hết sức cần thiết.
Nguyễn Thanh Thuỷ (2019) lại phân tích “Một số yêu cầu đối với phát triển năng lực dạy học cho giáo viên trung học phổ thông đáp ứng dạy học chương trình giáo dục phổ thông mới”. Trong đó, tác giả cho rằng chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra nhiều yêu cầu mà một người GV phải đáp ứng. Trước sự thay đổi đó, việc phát triển năng lực dạy học cho GV là điều tất yếu. Các nhà quản lý giáo dục cũng như các giáo viên trước hết phải hiểu rõ về những yêu cầu để từ đó mới xây dựng lộ trình phát triển năng lực giáo viên phù hợp.
Vấn đề về quản lý phát triển năng lực dạy học cho GV cũng được nghiên cứu khá kỹ lưỡng. Tô Bích Vân (2019) cũng nghiên cứu về phát triển năng lực dạy học cho GV nhưng tập trung ở cấp THPT trong luận văn “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học cho giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng” của trường Đại học Sư phạm. Tác giả chỉ tập trung khai thác một khía cạnh là quản lý hoạt động tổ chuyên môn chứ không nghiên cứu toàn diện quản lý bồi dưỡng phát triển năng lực dạy 9 học cho GV. Như vậy, nghiên cứu về phát triển năng lực dạy học hay quản lý phát triển năng lực dạy học cho giáo viên được các nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Giới hạn nghiên cứu khá đa dạng chia thành nhiều bậc học khác nhau bởi mỗi bậc học, yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông sẽ khác nhau và có nét đặc thù riêng. Các nghiên cứu cũng có thể được phân tích theo các nội dung khác nhau như quản lý hoạt động bồi dưỡng GV theo chuẩn nghề nghiệp, quản lý hoạt động tổ chuyên môn hoặc quản lý bồi dưỡng phát triển năng lực GV tổng quát. Bối cảnh hiện nay và yêu cầu đổi mới trong giáo dục. * Trên thế giới.
Thế giới đã chuyển sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI với những diễn biến tác động không nhỏ đến sự phát triển KT-XH Việt Nam nói chung cũng như sự phát triển giáo dục đất nước nói riêng. Một số yếu tố quan trọng có thể ảnh hưởng tới giáo dục Việt Nam có thể chỉ ra ở dưới đây: – Thứ nhất, đó là quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ. Sự tác động của quá trình toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục của nước mình. Bởi lẽ, muốn hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia cần đào tạo nguồn nhân lực có tri thức, kĩ năng, phẩm chất cần thiết.
Do đó, toàn cầu hóa trong giáo dục cũng là một thách thức đối với mỗi quốc gia trên thế giói, đòi hỏi cần có sự đổi mới căn bản và toàn diện. – Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ (Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) được dự báo sẽ làm thay đổi đến các mặt của xã hội, trong đó có Giáo dục và Đào tạo. Do vậy, cuộc cách mạng này cũng sẽ thay đổi hình thức và cách thức lao động trong lĩnh vực giáo dục. – Thứ ba, sự hình thành của nền kinh tế tri thức, xã hội có tri thức; trong đó, tri thức đóng vai trò quyết định đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã 10 hội.
Sự hình thành của nền kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dục phải vượt khỏi những khuôn khổ truyền thống và không ngừng đổi mới, thích nghi. * Bối cảnh trong nước - Tăng cường lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với đổi mới GD&ĐT; - Tiếp tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của GD&ĐT theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; - Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh đảm bảo khách quan, công bằng đối với học sinh; - Phát triển đội ngũ giáo viên và CBQL đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục. - Đổi mới chính sách ưu đãi đối với giáo viên, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GD-ĐT; - Chủ động hội nhập để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong Giáo dục và Đào tạo nhằm tạo nên những bước chuyển biến căn bản, toàn diện trong giáo dục Việt Nam hiện nay. Từ đó, Bộ GD-ĐT đã đề ra nhiều chủ trương nhằm đổi mới căn bản, toàn diện trong giáo dục, đáp ứng yêu cầu mới, khắc phục những hạn chế, yếu kém của giáo dục Việt Nam hiện nay.
Khoảng trống nghiên cứu Những đề tài nghiên cứu ở trên các nhà nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp. Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả, cho đến nay, chưa có nhà nghiên cứu nào, công trình nghiên cứu nào đề cấp đến vấn đề “Quản lý bồi dưỡng phát triển năng lực dạy học cho giáo viên trường Tiểu học Đồng Mai II, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay”. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1.
Quản lý Theo Harold Koolz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm”. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Ôn viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt được hiệu quả tối ưu đã đề ra” ([28, tr.