Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIÁO DỤC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về bồi dưỡng cho giáo viên Những mô hình về đào tạo, bồi dưỡng sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp rất được các tác giả ở nước ngoài quan tâm. Đầu những năm 60, vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm mới trở thành hệ thống lý luận với công trình nghiên cứu O.
Apđulinna “Bàn về kỹ năng sư phạm”. Tác giả đã nêu rõ từng loại kỹ năng sư phạm của một người GV và phân tích tỉ mỉ những kỹ năng chung và kĩ năng chuyên biệt trong hoạt động giảng dạy và giáo dục của họ [1]. Trong tác phẩm “Những phẩm chất tâm lí của người GV” Ph. Gônôbôlin đã vạch ra cho người sinh viên thấy được những yêu cầu nghề nghiệp đề ra cho họ và chỉ ra cho họ cần rèn luyện và phát triển những năng lực sư phạm gì, cách rèn luyện chúng như thế nào để trở thành một người GV [Dẫn theo 1] Vào những năm của thập kỷ 70 thế kỉ XX, cùng với việc thành lập “Phòng nghiên cứu chuyên biệt về đào tạo GV ở trường sư phạm”, nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức lao động khoa học và tối ưu hóa quá trình dạy học đã được tiến hành.
Đó là các công trình của M.Babanxki nhưng trong thực tế các công trình này cũng chưa nghiên cứu được là bao.I Bônđưrep cũng đã thừa nhận: “Cần phải nói rằng chuyên môn của người thầy giáo còn được nghiên cứu quá ít”. Đáng chú ý hơn cả là công trình nghiên cứu của X.Kixegop: “ Hình thành các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học” [Dẫn theo 44] và công trình nghiên cứu của O. Nội dung và cấu trúc thực hành sư phạm ở các trường Đại học Sư phạm trong giai đoạn hiện nay”.I Kinegop và các cộng sự đã nêu ra hơn 100 kỹ năng giảng dạy và giáo dục, trong đó tập trung vào 50 kỹ năng cần thiết nhất, được phân chia luyện tập theo từng thời kỳ thực hành, thực tập sư phạm cụ thể [Dẫn theo 45]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục Cùng chung quan điểm này với O.Apđulinna cũng đã luận chứng và đưa ra một hệ thống các kỹ năng giảng dạy và các kỹ năng giáo dục riêng biệt, được mô tả cụ thể theo thứ bậc [1] Trên thế giới xây dựng và phát triển đội ngũ GV trong giáo dục được các nước đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong các cuộc cách mạng cải cách giáo dục, chấn hưng, phát triển đất nước.
Cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về quản lí và phát triển đội ngũ GV trong khu vực và trên thế giới. Có thể kể một số công trình của các tác giả tiêu biểu như Eleonora Vilegas-Reiers (1998); Glatthorn (1995); Ganser (2000); Felding và Schalock (1985); Cochran-Smith và Lytle (2001); Walling và Levis (2000); Cobb (1999); Kettle và Sellars (1996); Kalelesad và Olweus (1998); Youngs (2001); Grosso de Leon (2001); Guzman (1995); Mc.Ginn và Borden (1995); Tattlo (1999); Darling-Hammond (1999); Loucks-Horsely và Mátumoto (1999); Borko và Putnam (1995). Ngoài ra, chúng ta còn gặp những kết quả nghiên cứu và GV phổ thông trong báo cáo của Uỷ ban quốc gia về giáo dục và tương lai Hoa Kì các năm 1996, 1997 … Tất cả các nghiên cứu trên có thể phân chia theo 4 hướng chính: - Những nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nghề nghiệp GV; - Những nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ thực tiễn để phát triển nghề nghiệp GV; - Những nghiên cứu cải tiến các kĩ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho GV. Trên thực tế xu hướng này đang được các quốc gia trong khối APEC triển khai thực hiện đào tạo, bồi dưỡng GV.
Theo xu hướng này, các quốc gia ở Châu Á- Thái Bình Dương cũng coi đào tạo và bồi dưỡng GV là một trong những khâu then chốt để phát triển kinh tế ở các nước này. Các nước này rất coi trọng nâng cao nghề nghiệp liên tục cho GV; - Nghiên cứu phát triển, bồi dưỡng nghề nghiệp cho GV như là một yêu cầu của tiến trình cải cách giáo dục. (2006) trong nghiên cứu có tên Trở thành GV: Kinh nghiệm của GV, sinh viên sư phạm về đào tạo GV Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục ban đầu ở Anh đã nêu lên phải hình thành một mô hình đào tạo trong đó chú trọng đến đào tạo nhân cách và kỹ năng sinh viên sư phạm sau đó trở thành những GV. Đó là nghiên cứu đào tạo GV ban đầu và phát triển nghề nghiệp sớm ở Anh.
Đặc biệt trong nghiên cứu của các tác giả này còn nhấn mạnh đến việc hình thành một môi trường thực hành nghề nghiệp sớm để giúp các sinh viên sư phạm tập làm quen với những kỹ năng nghề nghiệp GV. Đây chính là một hướng nghiên cứu tích cực và cần thiết để khẳng định rằng việc tạo nên mô hình đào tạo sinh viên sư phạm ngay từ khi còn trong nhà trường đại học với trang thiết bị đầy đủ những kỹ năng cần thiết là việc rất quan trọng.Almeida và Susana Caires (2007) trong nghiên cứu về khía cạnh tích cực của việc giám sát đào tạo sư phạm: Quan điểm của sinh viên sư phạm đã đi sâu vào nghiên cứu tầm quan trong việc giám sát, kèm cặp, hướng dẫn trong thời gian thực tập của sinh viên sư phạm của các GV tại các nhà trường phổ thông. Chính quá trình này sẽ ảnh hưởng và tác động đến quan điểm hình thành nghề nghiệp cũng như các kinh nghiệm dạy học mà sinh viên sư phạm sẽ học tập được sau khi ra trường. Đội ngũ GV ở các trường thực hành nghề nghiệp là lực lượng quan trọng giúp sinh viên sư phạm hình thành được kỹ năng nghề nghiệp và đánh giá được việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của các bạn sinh viên.
Tác giả Semiyu Adejare Aderibigbe (2011) trong tác phẩm Khảo sát mối quan hệ hợp tác giữa GV và sinh viên sư phạm đã cho thấy cách thức làm thế nào một mối quan hệ tư vấn và hợp tác giữa GV và sinh viên sư phạm có thể được nâng cao và chính việc gắn kết giữa sinh viên sư phạm và GV là chìa khóa để mở ra bước phát triển trong những hoạt động học tập, nghiên cứu tiếp theo. Nhìn chung ở nước ngoài có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu của các tác giả khác nhau đề cập đến việc đào tạo sinh viên sư phạm để sau này có đủ kỹ năng về dạy học, kỹ năng giáo dục để phục vụ cho hoạt động giáo dục nhưng chưa có đề tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục nào đề cập trực tiếp đến bồi dưỡng năng lực giáo dục đáp ứng chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên mầm non. Những nghiên cứu này có thể xem là tiền đề quan trọng để đề tài luận văn thực hiện được hướng nghiên cứu của mình. Ở Nhật Bản việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.
Tùy điều kiện thực tế của từng đơn vị mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi yêu cầu nhất định. Cụ thể mỗi trường có thể cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học [Dẫn theo 27] Tại Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội [Dẫn theo 27] Ở Pakistan có chương trình bồi dưỡng về sư phạm do nhà nước quy định, trong thời gian 3 tháng gồm các nội dung phương pháp nghiên cứu, đánh giá học sinh, cơ sở tâm lý - giáo dục, nghiệp vụ dạy học đối với giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm [Dẫn theo 27] Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thực thi hiệu quả đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài [Dẫn theo 27] Ở Việt Nam hướng nghiên cứu về mô hình đào tạo và phát triển sinh viên sư phạm sau khi ra trường chưa được nhiều và chưa được tập trung theo hệ thống.
Có những nghiên cứu đề cập ở các khía cạnh về đào tạo GV. Đó là nghiên cứu đầu tiên của Lê Văn Hồng năm 1975, “Một số vấn đề về năng lực sư phạm của người GV xã hội chủ nghĩa” [23]. Hay như tác giả Biền Văn Minh- ĐHSP- ĐH Huế; Báo GD-TĐ Số đặc biệt cuối tháng 2/2010 đã chỉ ra rằng “Việc hình thành hệ thống kĩ năng sư phạm cho sinh viên vẫn còn bộc lộ những thiếu sót”. Cụ thể: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục - Chương trình đào tạo chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc hình thành các kĩ năng sơ đẳng không phù hợp trước những biến đổi của khoa học kĩ thuật, thông tin và công nghệ.
Các kĩ năng làm việc với sách giáo khoa, kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học, kĩ năng tổ chức các hoạt động giảng dạy, kĩ năng giao tiếp, hội nhập, kế hoạch hóa, kiểm tra, tự kiểm tra, đánh giá, tự đánh giá…chưa được chú trọng. Đội ngũ giảng viên dạy nghiệp vụ sư phạm còn thiếu hiểu biết thực tế phổ thông. Chưa xây dựng được đề cương bài giảng một cách có hệ thống và phù hợp thực tế để đào tạo đội ngũ GV có năng lực sư phạm vững vàng. - Công tác chỉ đạo, giám sát điều hành, kiểm tra, đánh giá các hoạt động có liên quan đến đào tạo nghiệp vụ sư phạm đang gặp rất nhiều khó khăn và chưa thực sự hiệu quả.