mở đầu là nội dung “Quán triệt tư tưởng Hồ chí Minh vào dạy học-giáo dục-quản lý nhà trường” cùng 4 chuyê đề: 1. Chuyên đề 1: Những vấn đề chung về quản lý tổ chuyên môn trong trƣờng trung học 2. Chuyên đề 2: Xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn 3. Chuyên đề 3: Tổ trƣởng chuyên môn với công tác quản lý hoạt động dạy học trong trƣờng trung học 4.
Chuyên đề 4: Tổ trƣởng chuyên môn với công tác quản lý phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên trƣờng trung học Các chuyên đề nêu trên cố gắng bao quát kiến thức, kỹ năng quản lý chủ yếu của TTCM ở trƣờng THCS, THPT. Tài liệu đƣợc trình bày đan xen kết hợp giữa lý thuyết và tổ chức các hoạt động nhằm tăng cƣờng tối đa khả năng vận dụng, thực hành của các học viên tham gia tập huấn. Cũng đi sâu tìm hiểu về vấn đề quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS, tác giả Ngô Thị Phƣơng Thảo có bài viết “Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS ở Thành phố Hà Nội theo hướng phát triển năng lực dạy học”, trong đó tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS ở Thành phố Hà Nội theo hƣớng phát triển năng lực dạy học, đồng thời cũng chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS ở Thành phố Hà Nội theo hƣớng phát triển năng lực dạy học [38]. Tác giả Huỳnh Hùng Châu cũng nghiên cứu vào vấn đề này trong đề tài “Quản lí hoạt động TCM ở các trường THCS thành phố Rạch Giá Tỉnh Kiên Giang theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”(2008).
Từ việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trƣờng THCS thành phố Rạch Giá Tỉnh Kiên Giang theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, tác giả đã đề xuất 5 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý TCM ở các trƣờng THCS thành phố Rạch Giá Tỉnh Kiên Giang theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Tác giả Lê Anh Đồng có bài viết “Biện pháp quản lý tổ chuyên môn ở trƣờng THCS Sơn Trà - Đà Nẵng” (Đà Nẵng-2013), trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS trên địa bàn quận Sơn Trà, tác giả đã nêu ra những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lí hoạt động TCM ở các trƣờng THCS trên địa bàn quận Sơn Trà, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý TCM ở các trƣờng THCS trên địa bàn quận Sơn Trà. 10 Nhƣ vậy, Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS, chỉ ra những hạn chế của quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS tại địa phƣơng, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học nói chung và dạy học trong nhà trƣờng THCS ở địa phƣơng nói riêng. Tuy nhiên, ở mỗi địa phƣơng lại có những điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH khác nhau, nên nội dung các biện pháp quản lý hoạt động TCM trƣờng THCS ở các địa phƣơng khác nhau cũng có những sắc thái khác nhau.
Ở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng, việc quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS đƣợc Hiệu trƣởng và các CBQL các nhà trƣờng THCS rất quan tâm, tuy nhiên những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động TCM trong nhà trƣờng THCS chỉ mới tồn tại nhƣ những kinh nghiệm, những phát hiện đƣợc thể hiện trong các sáng kiến kinh nghiệm hoặc báo cáo tổng kết mà chƣa có một đề tài nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện. Vì vậy việc lựa chọn nghiên cứu “Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương” là hết sức cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục của bậc THCS cũng nhƣ góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục của địa phƣơng phù hợp với xu thế phát triển và yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.Một số khái niệm liên quan đến đề tài: 1. Từ khi xã hội loài ngƣời đƣợc hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã đƣợc quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao hơn.
Đó là hoạt động giúp cho ngƣời đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra.Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào đƣợc thực hiện ở qui mô tƣơng đối lớn đều cần đến một chừng mực nhất định của sự quản lý. Quản lý là sự xác lập sự tƣơng hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động đối với các bộ phận riêng lẻ của nó”.[29] 11 Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về quan niệm. Sau đây là một số khái niệm thƣờng gặp: -Khi nói đến quản lý, K.Marx ví hoạt động này nhƣ là công việc của ngƣời nhạc trƣởng, ông viết: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trƣởng”.[29] -Theo từ điển giáo dục học, quản lý là hoạt động tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức.
-Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những ngƣời lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến”. [33] -Theo Đặng Quốc Bảo: Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đƣa vào thế “phát triển”.[4] Qua các khái niệm trên về quản lý, chúng ta có thể quan niệm về quản lý nhƣ sau: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm đảm bảo sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với qui luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt đƣợc mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý. Nhƣ vậy, rõ ràng “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật” và “Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa có tính chất chủ quan, vừa có tính chất pháp luật nhà nƣớc, vừa có tính chất xã hội rộng rãi …chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”.
[22] Quản lý có hai chức năng cơ bản: duy trì và phát triển. Để đảm bảo đƣợc hai chức năng này, hoạt động quản lý phải bao gồm 4 chức năng cụ thể: Lập kế hoạch. 12 Tổ chức thực hiện kế hoạch. Chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch.
Kiểm tra, đánh giá. Quản lý giáo dục. - (Nghĩa rộng) Quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng nhiều hơn so với trƣớc, do chỗ mở rộng đối tƣợng giáo dục từ thế hệ trẻ sang ngƣời lớn và toàn xã hội.Tuy nhiên, giáo dục thế hệ trẻ vẫn là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội.
- (Nghĩa hẹp) Quản lý giáo dục chủ yếu là quản lý giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục nhà trƣờng, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Quản lý giáo dục gồm hai mặt lớn là quản lý nhà nƣớc về giáo dục, quản lý nhà trƣờng và các cơ sở giáo dục khác. Quản lý giáo dục là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phƣơng và cơ sở. - Quản lý giáo dục còn là một ngành, một bộ phận khoa học có tính chất liên ngành nhằm vận dụng những khoa học quản lý sao cho phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của hệ thống giáo dục.
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục có nhiều khái niệm nhƣ sau: -Theo Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo cho sự hình thành nhân cách thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của xã hội cũng nhƣ các qui luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em”. [22] -Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu 13 điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [33] Những khái niệm trên tuy có diễn đạt khác nhau nhƣng quản lý giáo dục đƣợc hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng phù hợp với qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm đƣa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định. Trong quản lý giáo dục chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp.
Đối tƣợng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo. Quản lý trường học. Quản lý trƣờng học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp vào tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh các lực lƣợng giáo dục khác cũng nhƣ huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo trong nhà trƣờng.