CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Giáo dục và Đào tạo có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi khoa học công nghệ đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, cùng với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đây là xu thế tất yếu của nền kinh tế tri thức nó có sự tác động đến nhiều lĩnh vực trong đó có giáo dục. Trong xu hướng phát triển chung đó ngành giáo dục đặt ra những yêu cầu mới nhằm đáp ứng các đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.
Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi các quốc gia phải không ngừng đổi mới để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả giáo dục. Đây là nhiệm vụ nói riêng của ngành giáo dục và là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Để đáp ứng điều đó các nhà làm công tác giáo dục cần tìm ra những giải pháp mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng các yêu cầu của thời đại, nhất là khi các nền giáo dục thế giới đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.
giáo dục là nền tảng cho sự phát triển khoa học, kỹ thuật; là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, toàn xã hội, tất cả các ban ngành, các cấp đều quan tâm đến giáo dục. Trong đó, công tác quản lý nói chung và quản lý hoạt động tổ chuyên môn nói riêng ở trường THPT là một nội dung quan trọng và cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu khoa học quản lý đến nay đã trở thành một chuyên ngành đích thực trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Có khá nhiều công trình nghiên 6 cứu có giá trị như: “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang; “Một số khái niệm về quản lý giáo dục” của tác giả Đặng Quốc Bảo; “Khoa học quản lý nhà trường phổ thông” của tác giả Trần Kiểm; “Những bài giảng về quản lý nhà trường” của tác giả Hà Sỹ Hồ. Ngoài ra, còn có các bài báo, tạp chí, luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động tổ chuyên môn của các trường Đại học trong cả nước. Những công trình này đã góp phần làm cho khoa học quản lý có cái nhìn toàn diện, khoa học hơn trong lĩnh vực này. Đồng thời, giúp cho giới nghiên cứu tiếp cận một cách có tính hệ thống, gần gũi và xác thực.
Tuy nhiên, các công trình này đang áp dụng một cách chung chung, chưa cụ thể, hoặc giả chỉ đề cập đến một vài vấn đề trong quản lý giáo dục. Trong nhà trường, công tác quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động tổ chuyên môn nói riêng, được xác định là trọng điểm của công tác quản lý của Hiệu trưởng. Đây là vấn đề sống còn trong các hoạt động giáo dục của nhà trường. Thời gian qua, ngành giáo dục tỉnh Đắk Nông nói chung và Hiệu trưởng các trường THPT đã có sự quan tâm đúng mức đối với sự phát triển giáo dục của tỉnh nhà; chất lượng giáo dục ngày một đi lên, cơ sở vật chất được đầu tư đồng bộ; vấn đề quản lý hoạt động tổ chuyên môn cũng được quan tâm, chú trọng.
Tuy nhiên, hiệu quả mang lại vẫn chưa cao. Đồng thời, hiện nay trên địa bàn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này, cũng chưa có những bài viết luận bàn hay đúc rút, tổng kết kinh nghiệm về hoạt động quản lý tổ chuyên môn ở trường THPT. Xuất phát từ thực tế trên, cá nhân tôi cho rằng việc nghiên cứu, đề xuất các hoạt động quản lý tổ chuyên môn là vấn đề cần thiết, và cần được nghiên cứu nghiêm túc, với mong muốn sẽ giúp các nhà quản lý có được những biện pháp quản lý khoa học, hiệu quả 7 và thiết thực, làm thay đổi một số hoạt động của các tổ chuyên môn trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1.
Quản lý Khái niệm quản lý là một thuật ngữ xuất hiện sớm và phổ biến trên thế giới, hiện nay các nhà nghiên cứu có nhiều cách tiếp cận khác nhau dựa trên mục đích, đối tượng nghiên cứu, đến nay chưa có một khái niệm thống nhất. Các nhà khoa học ở từng góc độ khác nhau lại có những lý giải và định nghĩa khác nhau. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: - “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; - “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”.
Qúa trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”, quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” tức chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”; có như vậy mới làm cho hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực, bền vững, đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật, làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau.Taylo (1856 – 1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: “Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó 8 thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin”. Với hai nhà nghiên cứu là Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra”. [4] Tác giả Trần Hồng Quân nhấn mạnh: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. [15] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”.
[1] Trong cuốn Giáo trình “Đại cương khoa học quản lý” của hai tác giả: Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ viết: “Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người, nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức”. [3, tr41] Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: “Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác”. [18] Koozt, O’Donnell và Weilhrich (1994): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Với tư cách thực hành thì cách 9 quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”.[19] Những quan niệm về quản lý trên đây, tuy có khác nhau về cách tiếp cận, nhưng đều thể hiện một số quan điểm chung nhất về quản lý đó là: - Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; là những tác động có tính chủ đích; là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. - Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung, - Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý. Tóm lại, khái niệm quản lý ngày nay có nhiều cách tiếp cận, chủ thể nghiên cứu cần căn cứ vào từng lĩnh vực, mục đích mà vận dụng các khái niệm phù hợp. Ở đây, trên phương diện nghiên cứu về quản lý chúng ta có thể hiểu: “Quản lý là quá trình tác động có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
Trong quá trình thực hiện để công tác quản lý đạt hiệu quả, người CBQL cần vận dụng tốt các chức năng quản lý, theo đó quản lý có bốn chức năng là: a. Chức năng kế hoạch hóa Đây là hoạt động đầu tiên của người quản lý, với mục đích giúp cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Kế hoạch là việc xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; xác định và đảm bảo các nguồn lực; quyết định xem những hoạt động nào cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra. Việc lập kế hoạch tốt sẽ giúp nhà quản lý giáo dục có kế hoạch khả năng ứng phó với sự bất định và sự thay đổi.
Đồng thời cho phép người quản lý tập trung vào các mục tiêu để tìm cách tốt nhất cũng như làm thế nào để tiết kiệm nguồn lực; tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức để đạt được mục 10 tiêu và giúp người quản lý dễ dàng kiểm tra trong quá trình thực hiện. Chức năng tổ chức Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu, phương thức cũng như quyền hạn hoạt động của các bộ phận hoặc cơ quan quản lý sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức.