Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Những năm gần đây vấn đề SKSS đã và đang thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Công tác giáo dục SKSS không còn hạn chế bởi quốc gia nào mà đã trở thành vấn đề cần quan tâm trên phạm vi toàn cầu.
Giới tính và giáo dục giới tính đã được nghiên cứu từ lâu. Tại phương Đông, cùng với hai nền văn minh rực rỡ của Ấn Độ và Trung Hoa, hai bộ sách tính dục Kamasutra (khoảng năm 200 đến 300) và Tố nữ kinh (khoảng hơn 2600 năm trước công nguyên) là những tác phẩm cổ điển đề cập một cách sâu sắc về nhiều vấn đề tính dục trên bình diện khoa học [1, tr. Tuy nhiên cho đến thế kỷ thứ XIX, tình dục vẫn là đề tài cấm kỵ ngay ở nước Anh và Đức, người lớn không nói đến cuộc sống tình dục với trẻ em. Bên cạnh đó, người ta còn xem xét giới tính và giáo dục giới tính theo quan điểm của tôn giáo và đạo đức thời đó.
Và chỉ sang đến thế kỷ XX, vấn đề giáo dục giới tính mới được nhiều nước Châu Âu quan tâm. Thụy Điển là quốc gia đầu tiên nghiên cứu vấn đề này. Bộ Giáo dục Thụy Điển đã quyết định thí điểm đưa giáo dục giới tính vào nhà trường từ năm 1942 và đến năm 1956 chính thức dạy phổ cập trong toàn thể các trường từ tiểu học đến trung học. Cũng như Thụy Điển, ở nhiều nước phương Tây và sau đó ở Mỹ, nhu cầu giáo dục giới tính cũng được chú ý và đề cao.
Người ta cho rằng cần phải tiến hành giáo dục giới tính trong nhà trường trên cơ sở khoa học và cần giáo dục giới tính ngay từ tuổi mẫu giáo [2, tr. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề SKSS ở cách tiếp cận khác nhau, đối tượng quan tâm khác nhau, điển hình như công trình nghiên cứu của Tiến sỹ Nasit Sadik - giám đốc điều hành Quỹ Dân số Liên hiệp quốc đã đưa ra một thông điệp rất tích cực về SKSS: “Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS hơn và họ biết SKSS rất quan trọng". Họ đều muốn xử sự một cách có trách nhiệm muốn bảo vệ sức khoẻ của chính mình và của cả người yêu. 6 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục Năm 1994, Hội nghị ICPD (International Conference on Population development) với sự tham gia của 197 quốc gia ở Cairo - Ai Cập, đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự thay đổi chính sách dân số ở các quốc gia.
Nếu trước đây, giáo dục dân số nhấn mạnh đến các nội dung dân số phát triển thì sau năm 1994, giáo dục dân số nhấn mạnh tới các nội dung SKSS vị thành niên như là một ưu tiên. Cũng trong Hội nghị này, vấn đề giáo dục SKSS chính thức được thừa nhận. SKSS được coi là định hướng chỉ đạo của hầu hết các chương trình Dân số thế giới. Cũng chính tại Hội nghị này, một khái niệm mới về giáo dục SKSS bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến tình trạng sức khỏe, quá trình sinh sản và chất lượng cuộc sống.
Sau hội nghị này, nhiều nước trên thế giới cũng lần lượt tổ chức nhiều hội nghị bàn về SKSS VTN như: - Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh, Trung Quốc (1995). - Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague, Hà Lan (1999). - Hội nghị dân số cấp cao của ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) và quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) tại Bangkok, Thái Lan. Đặc biệt thông điệp của Tiến sĩ Nafit Sadik - Giám đốc điều hành Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc đã nêu: Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS hơn và họ biết SKSS rất quan trọng.
Họ đều muốn xử sự một cách có trách nhiệm, muốn bảo vệ sức khỏe của chính mình và của cả người mình yêu vì họ biết rằng đây là việc nên làm. Phần lớn trong số họ khát khao tìm hiểu, họ muốn các thông tin về tình dục và sức khỏe tình dục. Họ muốn biết làm thế nào để bản thân họ và người yêu họ không có thai ngoài ý muốn, tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm HIV/AIDS. Thực tế hiện nay cho thấy trên trẻ em gái VTN trên khắp thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức hơn so với trẻ em trai cùng lứa tuổi.
Theo số liệu do Văn phòng UNFPA công bố năm 2015, trẻ em gái kết hôn trước 18 tuổi tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương là nhiều nhất (59 triệu trẻ), tại khu vực Đông Á và Nam Á là tám triệu trẻ. Tại các nước đang phát triển, số em gái từ 15 - 17 tuổi sinh con mỗi ngày là 20 nghìn trẻ. Ước tính, số ca nạo phá thai không an toàn của các em gái từ 15 - 19 tuổi là 3,2 triệu trẻ. Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em gái trong độ tuổi này là tự tử, nguyên nhân chính thứ hai là do biến chứng thai sản.
Tỷ lệ trẻ em gái cho biết từng bị cưỡng bức quan hệ tình dục trước 15 tuổi là 10%. Theo UNFPA, thế giới đang có nhóm dân số trẻ đông nhất từ trước đến nay. Trong tổng dân số hơn 7,3 tỷ người, có tới 1,8 tỷ người trong độ tuổi 10 - 24. Điều đó 7 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục có nghĩa là thế giới có 1,8 tỷ “tiềm năng không giới hạn” để giải quyết hàng loạt vấn đề nổi cộm và cấp bách.
Xuất phát từ thực trạng trẻ em gái vị thành niên (VTN) trên khắp thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức hơn so với trẻ em trai cùng lứa tuổi, Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) quyết định chọn chủ đề cho Ngày Dân số thế giới (11-7- 2016) là “Đầu tư cho trẻ em gái vị thành niên” [15]. Như vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề SKSS và giáo dục SKSS, coi đây là vấn đề có tính chiến lược quốc gia cần quan tâm. Vì vậy có nhiều nước đưa giáo dục SKSS vào nhà trường và tập trung vào các nội dung: dân số, giới tính, SKSS, sức khỏe tình dục và được coi là vấn đề mang tính chiến lược Quốc gia. Các nghiên cứu ở Việt Nam Do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến phương Đông trước đây, việc giáo dục giới tính ở Việt Nam chỉ được truyền miệng, ẩn dụ trong văn học dân gian như: “Yêu nhau cởi áo cho nhau”, “Cực chi da diết diết da; áo em hai vạt trải ra anh nằm” hoặc “Trời mưa gió rét kìn kìn, đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông”.
Trong thời gian dài, SKSS bị coi là vấn đề đáng xấu hổ, nên bị né tránh đề cập và nghiên cứu. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến dân số, chất lượng dân số và chất lượng cuộc sống của người dân. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo dục dân số là công tác thuộc chiến lược con người, đặc biệt chú trọng đến bảo vệ, CSSK bà mẹ trẻ em. Năm 1960, với dân số 30,2 triệu người, tỷ lệ tăng dân số thời điểm này rất cao 3,8%/năm, tổng tỷ suất sinh là khoảng 6,3 con.
Điều này ảnh hưởng lớn tới sự phát triển KT- XH của nước ta. Chính vì vậy, ngày 26/12/1961, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 216-CP về sinh đẻ có hướng dẫn. Đây là Quyết định có dấu mốc lịch sử quan trọng của Việt Nam về công tác dân số. Theo đó, cuộc vận động sinh để kế hoạch được phát động với mục tiêu “Vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân phải được hướng dẫn một cách thích hợp” [12].
Đến năm 1998, được sự tài trợ của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc UNFPA, cùng với sự giúp đỡ của UNESCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao cho Viện Khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện đề án VIE/98/P09 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao. Chương trình thí điểm tập trung chủ yếu về tâm lý giáo dục và sinh học. Lần đầu tiên trong nhà trường phổ thông ở nước ta, học sinh 8 Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục được học một cách hệ thống về những điều khó nói có liên quan đến đời sống tình dục và mối quan hệ với người khác giới. Các nội dung SKSS được chính thức lồng ghép vào nội dung một số môn học từ bậc tiểu học đến trung học và khẳng định rằng trong giai đoạn này trọng tâm của công tác giáo dục dân số phải là giáo dục SKSS cho VTN [7, tr7, 8].
Tháng 5/1998, Uỷ ban quốc gia DS/KHHGĐ đã thông qua Dự án “Tăng cường giáo dục dân số cho học sinh độ tuổi trung học, từ 12 đến 18 tuổi”. Dự án tập trung vào việc nâng cao nhận thức cho học sinh về giới tính, đời sống gia đình, SKSS, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội và nâng cao chất lượng dân số. Từ đó giúp cho học sinh có thái độ đúng, có lối sống lành mạnh, hình thành và phát triển nhân cách, thực hiện tốt những quy định của nhà nước về DS/KHHGĐ. Ngày 28/11/2000 Thủ tướng chính phủ phê duyệt “Chiến lược Quốc gia về chăm sóc SKSS” giai đoạn 2001 - 2010 tại quyết định số 136/2000/QĐ-TTg.
Chiến lược nêu rõ quan điểm: bảo đảm sự công bằng, làm cho mọi người đều được tiếp cận với các thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS; Công tác chăm sóc SKSS cho đối tượng thanh niên được quy định rõ tại Mục tiêu 6 của chiến lược: cải thiện tình hình SKSS, sức khỏe tình dục VTN thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS phù hợp với lứa tuổi”. Ngoài ra, Chiến lược còn yêu cầu: "Mở rộng nội dung và thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục DS, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường ở mọi cấp học và ngành học của hệ thống giáo dục quốc dân với những hình thức thích hợp theo hướng cung cấp kiến thức, tạo nhận thức và hành vi đúng đắn, xây dựng kỹ năng sống phù hợp về DS và phát triển bền vững,SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính.