CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN CHO GIÁO VIÊN NGỮ VĂN 1. Những nghiên cứu về văn bản thông tin (VBTT) và dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 1. Những nghiên cứu trên thế giới Những nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của văn bản thông tin: Thuật ngữ Informational text, dịch nghĩa tiếng Việt là văn bản thông tin (VBTT), xuất hiện trong nghiên cứu của Nell K. Duke và một số nhà khoa học từ trước những năm 2000.
Đến nay, nghiên cứu về VBTT đã có những thành tựu nhất định, làm tiền đề cho các công trình nghiên cứu về vấn đề dạy học ĐHVBTT tiếp sau. Tuy nhiên, trong lí luận về phương pháp dạy học Ngữ văn, khái niệm VBTT chưa hoàn toàn được sử dụng đồng nhất. Khảo sát tư liệu, chúng tôi thấy có 3 quan niệm nổi bật là: VBTT là một bộ phận của VB phi hư cấu (non-fiction texts); VBTT là loại văn bản bao chứa các tiểu loại trong đó có VB phi hư cấu; VBTT trong mối quan hệ với văn bản văn học (VBVH). Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể từng quan niệm: Quan niệm thứ nhất: VBTT là một bộ phận của VB phi hư cấu.
Từ góc nhìn này, một số nghiên cứu xác định VBTT thuộc phạm trù văn bản phi hư cấu, là một bộ phận trong thế giới của các văn bản phi hư cấu. Điểm giống của nó với các văn bản phi hư cấu được nhiều tác giả (như Nell K. Y, Katie Surber) quan tâm đề cập: “Văn bản thông tin là một tập hợp con của các phạm trù rộng lớn phi hư cấu. Mục đích chính của nó là để thông báo cho người đọc về thế giới tự nhiên hay xã hội [120, tr.
“Đây là loại văn bản được viết ra để truyền đạt, mô tả hay giải thích những thông tin phi hư cấu, chứa nhiều lớp từ vựng kĩ thuật và yêu cầu người đọc phải có một kiến thức nền phù hợp” [112, (dẫn theo 69, tr. “Các văn bản thông tin là một loại phi hư cấu, đề cập đến các vấn đề thực tiễn” [114]. Mặt khác, trong "đại gia đình văn bản phi hư cấu”, loại VBTT được xác định có những đặc điểm khác biệt. Điều này được thể hiện khá rõ ở một số nghiên cứu sau: Trong Reading & writing informational texts in the primary grades (Đọc và viết VBTT trong các lớp tiểu học), Nell K.Duke đã phân tích sâu, chỉ ra sự khác biệt giữa VBTT và các loại văn bản phi hư cấu ở 3 phương diện mục đích, đặc điểm và định dạng: 9 Về mục đích: VBTT chuyển tải thông tin về tự nhiên hay xã hội.
Các VB phi hư cấu khác chuyển tải thông tin về cuộc sống cá nhân (như tiểu sử), cung cấp biện pháp hay cách tạo văn bản, kể một sự kiện hay một chuỗi sự kiện đã xảy ra. Duke nhấn mạnh: Mục đích đầu tiên của VBTT là truyền tải thông tin về thế giới tự nhiên hay xã hội, đặc biệt là, từ người đã đoán biết được thông tin đến người không dự đoán được bằng những đặc điểm ngôn ngữ như tiêu đề và từ vựng chuyên môn cho mục đích đó. Do đó, theo định nghĩa của chúng tôi, tiểu sử là VB phi hư cấu chứ không phải là VBTT, vì mục đích của nó là truyền tải thông tin về cuộc sống của cá nhân. Biện pháp hay cách tạo VB cũng là VB phi hư cấu vì mục đích của nó là nói về cách làm chứ không phải truyền tải thông tin về điều gì.
Hình thức kể chuyện phi hư cấu hay còn gọi là “những câu chuyện có thật” là các VB phi hư cấu vì mục đích là kể về một sự kiện hay một chuỗi sự kiện đã xảy ra. Điều này không có nghĩa là tiểu sử, VB biện pháp, VB kể chuyện phi hư cấu hay các thể loại phi hư cấu không quan trọng mà chỉ là chúng không giống với VBTT [120, tr. Về đặc điểm: VB phi hư cấu (như tiểu sử) tập trung vào cá nhân và thông tin chi tiết về thời gian. Ngược lại, VBTT nói về mọi thứ và theo cách vượt thời gian (ví dụ: “Cá mập sống trong nước”); do đó chúng có đặc trưng bao quát.
Những đặc điểm chung khác của VBTT bao gồm sự trình bày và sự lặp lại của một chủ đề, sự miêu tả thuộc tính với các sự kiện đặc thù, sự so sánh với các cấu trúc phân loại. Các từ vựng thuật ngữ, các minh hoạ có thật hay hình ảnh, nhãn dán hay chú thích. Các trợ giúp có điều hướng như phụ lục, số trang, tiêu đề và các thiết bị đồ họa đa dạng như biểu đồ, bảng và đồ thị. Rất nhiều trong số chúng không được tìm thấy ở các loại VB phi hư cấu khác nhau [120, tr.
Về định dạng: VBTT có nhiều loại: Sách tham khảo (như cuốn bách khoa toàn thư hay sách hướng dẫn)… báo chí, tạp chí, ap- phic, những cuốn sách nhỏ, trang mạng hay đĩa CD (. VB phi hư cấu chỉ có trong những cuốn sách [120, tr. Theo Non-fiction texts explained for primary school parents (Giải thích về VB phi hư cấu dành cho phụ huynh tiểu học) đăng trên Theschollrun.com, VB phi hư cấu là tất cả các VB “dựa trên sự thật và cuộc sống thực, chứ không phải là một câu chuyện hư cấu” [125]. Trong khi, “VBTT là một loại của văn bản phi hư cấu cung cấp thông tin về một điều cụ thể (ví dụ: Ai Cập cổ đại, tái chế hoặc núi lửa).
Các VBTT đôi khi được gọi là báo cáo không theo trình tự thời gian (không theo niên đại) bởi chúng cung cấp thông tin về một cái gì đó mà không đề cập đến thứ tự xảy ra" [111]. 10 Đặc điểm không theo niên đại này của VBTT đối lập với một số loại VB khác (thuộc VB phi hư cấu) và được viết theo trật tự thời gian (theo niên đại) như: VB giải thích (explanation, loại VB nói về những điều xảy ra theo thời gian, ví dụ trật tự thời gian một trận thi đấu), VB tường thuật (recount - ví dụ diễn biến một sự kiện), VB hướng dẫn (instructions - ví dụ gợi ý một số điểm quan trọng về việc phải làm như thế nào), VB thuyết phục (persuasive texts - mục đích chính là đưa ra một quan điểm và thuyết phục người đọc, người xem hoặc người nghe.”), VB tiểu sử và tự truyện (biography and autobiography), VB báo chí (journalistic writing), VB tranh biện (argument texts). Quan niệm thứ hai: VBTT là loại văn bản bao chứa các tiểu loại, trong đó có VB phi hư cấu. "VBTT gồm 4 loại là văn bản phi hư cấu, văn bản thuyết minh, văn bản tranh luận hoặc thuyết phục và văn bản thủ tục" [113].
Theo đó, Văn bản phi hư cấu bao gồm các văn bản ngắn hơn, chẳng hạn như "tiểu luận cá nhân, bài phát biểu, các bài phê bình, tiểu luận về nghệ thuật hoặc văn học, tiểu sử, hồi ký, báo chí và các tài khoản lịch sử, khoa học, kĩ thuật hoặc kinh tế được viết cho nhiều đối tượng: tự truyện, tiểu sử, các bài tường thuật khác, sách ảnh thông tin, Văn bản thuyết minh sử dụng các cấu trúc văn bản khác nhau như mô tả, nguyên nhân và kết quả, so sánh và tương phản, vấn đề và giải pháp, câu hỏi và câu trả lời, theo trình tự thời gian; Văn bản tranh luận hoặc thuyết phục cung cấp bằng chứng với dụng ý gây ảnh hưởng đến niềm tin hoặc hành động, mục tiêu của đối tượng; Văn bản thủ tục hướng dẫn từng bước và mô tả cách hoàn thành một tác vụ. Chúng thường bao gồm một phần tư liệu cần thiết và minh hoạ quá trình này. "VBTT gồm sách phi hư cấu văn học (sử dụng thông tin thực tế trong một định dạng giống như một câu chuyện). VB giải thích (đọc thực tế, giống như sách giáo khoa), VB thuyết phục (sử dụng lập luận để trình bày và thuyết phục người đọc), VB thủ tục (hướng dẫn từng bước cách làm thứ gì đó)" [100, tr.
"VBTT được định nghĩa là VB có mục đích chính để trình bày thông tin về nghệ thuật, khoa học hoặc nghiên cứu xã hội. VB này bao gồm từ các bài báo, tạp chí đến sách thương mại phi hư cấu, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo" [115]. "VBTT là một thuật ngữ rộng, bao gồm tiểu sử và tự truyện (phi hư cấu), sách về lịch sử, nghiên cứu xã hội, khoa học và nghệ thuật, văn bản kĩ thuật, biển chỉ đường, biểu mẫu và thông tin được hiển thị dưới dạng đồ thị, biểu đồ hoặc bản đồ" [101, tr. Theo nhà nghiên cứu Pappas (2006), "VBTT được phân chia thành bốn tiểu loại là: VB trình bày chủ đề (topic presentation), VB miêu tả (descriptive attributes), VB trình bày sự kiện (characteristic events) và VB tổng kết (final summary)" [109].
Quan niệm thứ ba: Nếu quan niệm thứ nhất và thứ hai, đặt VBTT trong tương 11 quan với văn bản phi hư cấu, thì quan niệm thứ ba lại đặt VBTT trong mối quan hệ với văn bản văn học (VBVH).Graves là những tác giả tiêu biểu cho quan niệm này. Khi nghiên cứu về VB, Langer (1992) cho rằng: "VB được phân chia thành hai loại là VBVH và VBTT" [126]. VBTT khác với VBVH, chủ yếu được viết để truyền đạt thông tin hoặc kiến thức. Về cơ bản, chúng ta đọc loại VB này “để chuyển hóa các thông tin hoặc kiến thức trong văn bản thành tri thức của mình với mục đích sử dụng trong học tập và đời sống hoặc làm tư liệu cho mai sau”, “người đọc sẽ có hai tư tưởng khi đọc VB, một là để trải nghiệm; hai là để định vị và ghi nhớ thông tin.
Do đó, với hầu hết các VBTT, sự chú ý của người đọc sẽ tập trung chủ yếu vào những điều họ thu được từ việc đọc - tức là thông tin chứa đựng trong văn bản” [117, tr. Như vậy, ngay vấn đề khái niệm VBTT cũng là điều mà các nhà nghiên cứu còn tranh luận. Quan niệm thứ hai, có những điểm khác biệt rõ rệt so với quan niệm thứ nhất và thứ ba. Trong khi, quan niệm thứ nhất cho rằng VBTT thuộc phạm trù của văn bản phi hư cấu; thì quan niệm thứ hai lại khẳng định ngược lại: VBTT bao chứa cả văn bản phi hư cấu.
Tổng quan như thế, đã đặt ra nhiệm vụ cho luận án: Hoặc cần phải lựa chọn; hoặc sẽ đề xuất khái niệm mới về VBTT để có thể triển khai thấu suốt vấn đề. Tuy nhiên, trong sự khác nhau đến đối lập giữa các quan niệm, vẫn có thể nhận thấy sự thống nhất của các tác giả ở đặc điểm chung là: VBTT không sử dụng các yếu tố hư cấu, tưởng tượng và mục đích chính là cung cấp trực tiếp thông tin.