CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong xã hội hội nhập ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc ưu tiên phát triển giáo dục càng trở nên cấp thiết trong chiến lược phát triển đất nước. Để đáp ứng các yêu cầu được đặt ra trong chương trình GDPT mới, vấn đề quản lý các hoạt động nghiên cứu chương trình cũng được đặt lên hàng đầu, đặc biệt là quản lý hoạt động SHCM nói chung và quản lý hoạt động SHCM theo hướng NCBH nói riêng trong các trường phổ thông cũng được các tác giả trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu từ sớm. Cụ thể là: 1.
Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, mô hình NCBH không phải là mô hình mới mà đây là mô hình đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục, các chuyên gia giáo dục trên thế giới như: Nhật Bản, Anh, Hoa Kì, Đức, Úc, Brunei, Singapore, Thái Lan,. từ nhiều năm nay với các công trình nghiên cứu và tài liệu tham khảo. Theo đó NCBH là hoạt động chuyên môn có nguồn gốc từ Nhật Bản vào thế kỉ XIX, thời Minh Trị (1868-1912) như một biện pháp nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học ở từng bài học cụ thể. Đây được coi là một phương pháp đổi mới nhà trường theo cách tiếp cận gọi là NCBH vì cộng đồng học tập.
Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng NCBH sẽ dần làm thay đổi thực tiễn giảng dạy của giáo viên, học tập của trẻ em và văn hóa trường học. [13] Theo William Cerbin and Bryan Kopp trong Lesson Study as a Model for Building Pedagogical Knowledge and Improving Teaching (2006) [32] thì “NCBH là cách tiếp cận dựa trên minh chứng để cải tiến công tác dạy học. Trong trường hợp tốt nhất, giáo viên có hiểu biết quan trọng trong việc học sinh học được gì và học như thế nào từ bài học; chỗ vướng mắc, những thay đổi của học sinh và cách học 7 sinh giải thích, trình bày những ý tưởng của mình về bài học”. Theo nghiên cứu của tác giả này, tại Nhật Bản, giáo viên tham gia NCBH làm việc trong các nhóm nhỏ để lập kế hoạch bài học, dạy mẫu, quan sát, phân tích và chắt lọc nội dung cốt lõi của bài học.
Gần như tất cả giáo viên Nhật Bản tham gia các nhóm NCBH trong suốt năm học. Họ cũng quan sát các tiết dạy theo NCBH tại trường hoặc dự giờ các tiết dạy mẫu ở những trường khác tại địa phương. Tại trường Tiểu học Tsuta (Hirosima, Nhật Bản), NCBH được chia làm ba quý theo năm học [14]. Quý đầu, giáo viên họp chung toàn trường vài lần để chọn chủ đề nâng cao chuyên môn của năm.
Sau đó giáo viên cùng khối trao đổi, thảo luận đề ra mục tiêu cho việc NCBH trong năm đó. Trong quý 2, các nhóm bắt đầu triển khai NCBH, họ thường xuyên gặp nhau vào thứ 5 hàng tuần khoảng 2-3 tiếng. Thời gian này, giáo án sẽ được họ cùng chuẩn bị một cách kĩ lưỡng. Hiệu trưởng và trưởng nhóm tham gia cùng.
Sang quý 3, họ bắt đầu thực hiện bài giảng trên lớp, cùng nhau đánh giá bài giảng, tiếp tục chỉnh sửa và chia sẻ thành quả của mình. Ở Mĩ, trong khoảng thời gian chỉ hơn 4 năm, NCBH đã xuất hiện tại hơn 335 trường học trên 32 tiểu bang và trở thành trọng tâm của hàng chục hội nghị, báo cáo và bài báo được xuất bản (Lewis et al., 2006), sau đó nhanh chóng mở rộng sang các quốc gia khác. NCBH cũng đã triển khai ở các nước khác, bao gồm Singapore (Chong & Kong, 2012; Lim et al., 2011; Tan-Chia et al., 2013), Hong Kong (Cheng, 2011), Indonesia (Suratno, 2012), Malaysia (Meng and Sam, 2011), Thái Lan (Inprasitha, 2011) và Việt Nam (Wheeler et al. Gần đây, các nhà giáo dục ở nhiều quốc gia đã bắt đầu học hỏi từ các chuyên gia giáo dục Nhật Bản cách phát triển văn hóa mới để thúc đẩy các cộng đồng học tập tại trường của họ.
Rock & Cathy Wilson trong Improving Teaching through Lesson Study (2005) [33] cho biết “Nhiều nghiên cứu về giáo dục tin rằng một thành phần quan trọng của bất kì nỗ lực cải cách giáo dục đều nên cung cấp cho giáo viên những cơ hội và những hệ thống hỗ trợ thích hợp để khích lệ thực hiện công việc quan trọng trong việc tiếp tục nâng cao kĩ năng sư phạm”, “vì vậy cần tiếp tục bổ sung những nghiên cứu về mô hình NCBH trong tương lai. Việc hiểu biết tốt hơn về cách phát triển chuyên sâu về mô hình NCBH sẽ mang lại hiệu quả 8 cao nhất cho đội ngũ giáo viên trong các tình huống dạy học đa dạng và yêu cầu của bối cảnh đem lại”. Những nghiên cứu ở Việt Nam Giáo dục là nền móng của xã hội, nước ta từ khi lập quốc đến nay đều coi trọng sự phát triển của nền giáo dục nước nhà. Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của giáo dục đối với vận mệnh đất nước.
Chính vì vậy mà một trong ba “giặc” mà Bác xác định cần tiêu diệt ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công đó là “giặc dốt”. Ngay trong thời kì khó khăn, gian khổ nhất của đất nước mà công cuộc kiến thiết, xây dựng xã hội vẫn diễn ra hết sức khẩn trương, hiệu quả theo đúng đường lối, chính sách của Đảng. Ngày nay, đất nước bước vào thời kì “công nghiệp hóa – hiện đại hóa”, ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới trong các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, lần thứ 4. Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013) vì thế cũng nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội [.] Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.” Mục tiêu giáo dục ngày nay cũng thay đổi theo quan điểm chỉ đạo trên, chuyển dần từ giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức, nội dung cho người học sang giúp người học chủ động khám phá, tìm tòi, xây dựng kiến thức mới trên nền tảng tri thức đã tích lũy được. Đổi mới giáo dục là đẩy mạnh hoạt động tự học tập, nghiên cứu, giải quyết vấn đề của người học, phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học. Trong quá trình đó, việc hội nhập với các quan điểm, triết lí, phương pháp giáo dục mới từ các nền giáo dục khác trên thế giới cũng được nhà nước và các cấp quản lý quan tâm tích cực.
Nhiều mô hình giáo dục tại các nước được vận dụng trong hệ thống giáo dục phổ thông tại nước ta. Một trong những trọng điểm của việc đổi mới giáo dục là đến từ sự đổi mới tư duy, cách tiếp cận người học, phương pháp dạy học của người giáo viên. Để những quan điểm mới, phương pháp, 9 mô hình giáo dục mới được vận hành, cần sự hiểu biết, điều phối, chỉ đạo từ các cấp quản lý. Các nhà quản lý giáo dục hiện nay cũng tích cực tìm nhưng giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục.
Một trong những giải pháp tích cực đó là đổi mới từ việc quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên và hoạt động nâng cao chuyên môn cho giáo viên trong nhà trường phổ thông. Để làm được điều này các nhà quản lý giáo dục phải liên tục cập nhật, đổi mới, nâng cao chất lượng điều hành và quản lý của mình đối với các bộ phận của hệ thống giáo dục. Ở Việt Nam, mô hình NCBH được giới thiệu và thí điểm tại 5 trường tiểu học tại tỉnh Bắc Giang từ tháng 10/2004-8/2007 do Bộ GD-ĐT và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp thực hiện. Bộ GD-ĐT đã đưa mô hình này vào các dự án Trường học mới VNEN (ở cả cấp tiểu học và THCS), chương trình “Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học” (dự án SEQAP) và triển khai đại trà trên cả nước theo công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH của Vụ Giáo dục Trung học (Bộ GD- ĐT, 2014) và số 1315/BGDĐT-GDTH của Vụ Giáo dục tiểu học (Bộ GD-ĐT, 2020).
NCBH được tiến hành dưới hình thức SHCM, giáo viên trong trường được yêu cầu tham gia dự giờ và suy ngẫm về bài học. Hàng tuần, giáo viên dự giờ một bài học của đồng nghiệp, hoạt động dự giờ tập trung, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học sinh học như thế nào chứ không phải giáo viên dạy như thế nào. Giáo viên có thể từ đó phát triển năng lực chuyên môn của chính mình thông qua việc quan sát và hiểu những tín hiệu ngôn từ và phi ngôn từ của học sinh. SHCM theo NCBH là quá trình giáo viên tham gia vào các khâu từ chuẩn bị, thiết kế bài học, sáng tạo, dạy thử nghiệm, dự giờ, suy ngẫm và chia sẻ ý kiến về những gì diễn ra trong việc học của học sinh.
Đây là một mô hình bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho mỗi giáo viên và làm thay đổi nhà trường một cách bền vững. [14] Ngoài ra, trong nước hiện có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về thực trạng, nội dung triển khai mô hình NCBH, một số vấn đề trong quản lý mô hình này như: Tác giả Hồ Thị Loan - Lê Thị Cẩm Mỹ viết tại Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 3 tháng 5/2019 [23] cho rằng “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo NCBH là hướng đi đúng đắn, nhằm nâng cao năng lực quản lí và năng lực hoạt động chuyên môn cho cán bộ quản lí. Đây cũng là một giải pháp bồi dưỡng giáo viên trong các nhà trường phổ thông để chuẩn bị tiếp cận với chương trình giáo dục mới.