Chương 1 NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TIỂU HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Các công trình nghiên cứu về hoạt động học tập của học sinh Lịch sử phát triển của giáo dục học đã cho thấy, vấn đề học tập luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học từ thời cổ đại cho đến hiện đại. Chẳng hạn như: Trong dòng chảy của lịch sử của nền giáo dục hiện đại, có rất nhiều nghiên cứu về HĐHT, đưa ra các quan niệm HĐHT là việc sắp xếp học tập trong hoạt động một cách có mục đích và hiệu quả để thúc đẩy tốt nhất cho quá trình học tập.
Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học đã áp dụng các phương pháp thực hành trong lớp học mang tính kiến tạo để dẫn dắt HS vào các tình huống mà ở đó đòi hỏi HS phải suy nghĩa để đưa ra các giả thuyết, thu thập dữ liệu và xác định các chứng cớ, dữ liệu nhằm sử dụng có hiệu quả trong quá trình giải quyết một vấn đề hoặc tham gia vào một số hoạt động phân tích thực tiễn, các cuộc điều tra từ đó cung cấp một mô hình hợp lý học hỏi từ các tình huống giải quyết vấn đề, đưa ra đề xuất về giáo dục phù hợp với các lý thuyết và phương pháp giáo dục này có thể cung cấp thêm cụ thể và chi tiết. Các nghiên cứu về HĐHT trong lớp học đều tập trung vào việc đặt HS vào các tình huống mà ở đó HS phải suy nghĩa để quyết định đưa ra giả thuyết, thu thập và xác định số liệu nào sẽ sử dụng trong quá trình giải quyết vấn đề hoặc tham gia vào một số loại phân tích hoặc điều tra thực tế [28]. Với đề tài nghiên cứu “Cải cách chương trình giảng dạy: Kết hợp công nghệ khoa học vào giảng dạy”, thông qua bài viết của mình nhóm tác giả đã chỉ ra rằng muốn thực hiện được việc thiết kế một cách tốt nhất về HĐHT thì HS cần phải có sự hiểu biết về những gì là cần phải học, phải nghiên cứu và vận 6 dụng những loại kinh nghiệm đã được hình thành, tích luỹ trong HĐHT từ các cấp học dưới sẽ là cơ sở để dẫn đến việc học hiệu quả ở bậc học cao hơn. Tuy vậy, để cho HĐHT diễn ra theo đúng mong đợi, đòi hỏi mỗi HS phải sử dụng các HĐHT trong lớp học cần được thông báo bằng các bài học của thực hành; những vấn đề phức tạp như các vấn đề về xã hội, vấn đề về nhân cách, năng lực của GV, sự thoải mái của lớp học và các vấn đề khác và tất cả những đều đóng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong HĐHT của HS và đấy là cơ sở quan trọng để tạo ra kết quả tốt nhất.
Do vậy, muốn thiết kế HĐHT một cách có hiệu quả nhất thì nhất thiết cần phải nghiên cứu lý thuyết nhận thức xã hội để hướng dẫn cho HĐHT của HS; đồng thời, cần phải thử nghiệm, phân tích, sàng lọc theo thời gian nhằm cải thiện tốt các HĐHT cho HS [30]. Nhóm tác giả Norman, G. (1992), đã nghiên cứu về cơ sở tâm lý của việc học dựa trên vấn đề: Đánh giá bằng chứng, với kết quả thu được nhóm tác giả đi đến kết luận là các HĐHT sẽ được đánh giá với sự khác biệt giữa học tập dựa trên giải quyết vấn đề và các chiến lược chương trình giảng dạy thông thường. Từ kết nghiên cứu thu được đã cho thấy nếu trong quá trình thực hiện hoạt động dạy học giải quyết vấn đề của GV sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện về kỹ năng giải quyết vấn đề nói chung, tăng khả năng lưu giữ kiến thức của HS nói riêng và bằng chứng sơ bộ đã cho thấy các tiêu chí giải quyết vấn đề có thể nâng cao cả việc chuyển các khái niệm sang các vấn đề mới và tích hợp các khái niệm khoa học cơ bản lại với nhau một cách có mục đích [31].C và cộng sự (2003), với nghiên cứu “Đa dạng hóa việc học từ các cấp độ nhóm học tập”, kết quả nghiên cứu thu được đã chỉ ra rằng HĐHT sẽ có những cách khác nhau mà các nhóm tham gia vào việc học tập mang lại.
Qua đó, nhóm tác giả đã gợi ý muốn hiểu được các ảnh hưởng của HĐHT bên ngoài đến kết quả học tập cụ thể thì điều quan trọng là phải tiến hành điều tra làm rõ sự tồn tại của các loại hình HĐHT vì các loại 7 hình HĐHT chúng có thể có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu suất của nhóm trong quá trình học tập [29]. Theo nhóm tác giả J. Rodger, nghiên cứu về một khía cạnh khác của HĐHT là “Các cách tiếp cận và phương pháp trong giảng dạy ngôn ngữ”, bằng kết quả thu được từ nghiên cứu, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng tất cả các HĐHT của nhóm bên ngoài sẽ góp phần mang lại hiệu quả học tập cao; trên cơ sở đó bài viết đã đề xuất và tiến hành kiểm tra một mô hình với hai HĐHT bên ngoài là (1) Những hoạt động cho phép một nhóm học hỏi từ kinh nghiệm bên ngoài những người khác về nhiệm vụ các HĐHT gián tiếp và (2) Những hoạt động cho phép một nhóm học hỏi từ các nguồn bên ngoài về bối cảnh hoạt động học [32]. Ở Việt Nam, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho một nền giáo dục Việt Nam, nền giáo dục toàn dân, toàn diện, khoa học và hiện đại, trong đó tư tưởng của Người khi bàn về tự học, Người cho là “tự động học tập”.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người trong quá trình tồn tại và phát triển của mình cần phải “Tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ” [16, tr. Chính vì vậy, ngay trong buổi nói chuyện với lớp huấn luyện đảng viên mới ngày 14 tháng 5 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tâm sự “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già cho nên ít chịu học tập” [15, tr. Bước vào thế kỷ XXI, giáo dục đã có những thay đổi lớn nhằm hướng con người tới những mục tiêu giáo dục để phát triển năng lực tự quyết định trong cuộc sống hoạt động của mình và trong sự phát triển ấy mỗi người học sẽ phải có đầy đủ phẩm chất như tự quyết định và tự phát triển để tự tổ chức các hoạt động học tập của mình, tiêu biểu có nghiên cứu của tác giả Jeannette Vos và Cordon Dryden (2004). Với nghiên cứu và trình bày khái quát ở bài viết “Thiết kế các HĐHT theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học sinh học 6” [25], 8 của tác giả Đặng Thị Dạ Thủy (2018), nội dung bài viết đã chỉ rõ là muốn giúp cho HS có thể phát triển năng lực thì vấn đề đặt ra là GV cần phải dành nhiều thời gian để thiết kế được bài dạy, cũng như nghiên cứu các mục tiêu, yêu cầu cần đạt tùy theo từng đối tượng HS, có như vậy mới bảo đảm mới đem lại kết quả trong hoạt động dạy học sinh học theo tiếp cận năng lực [25].
Qua khảo cứu, tìm hiểu ở một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về HĐHT của người học (HS) ở các nhà trường Việt Nam và một số nước trên thế giới đã cho thấy, việc học tập của người học luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả thuộc những chuyên ngành khác nhau, diễn ra ở từng giai đoạn với bối cảnh khác nhau và mang tới những kết quả thiết thực khách nhau, song phần nào đã đáp ứng được quá trình tổ chức hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học. Song việc tiếp cận nghiên cứu về HĐHT của HS ở Trường PTDTBT thuộc vùng núi Tây bắc Việt Nam cho đến nay thực sự chưa có công trình nào được triển khai, chính vì lẽ đó việc nghiên cứu đề tài HĐHT của HS với điều kiện, đặc điểm, đối tượng, thời gian, không gian ở Trường PTDTBT thuộc vùng Tây bắc, với hy vọng góp phần nhất định và việc nâng cao chất lượng, hiệu quả HĐHT cho HS Trường PTDTBT. Các công tình nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của học sinh Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu khái quát trong lịch sử giáo dục thế giới cũng như ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp đề cập đến quản lý HĐHT, nên có thể nghiên cứu, tìm hiểu khái quát một số công trình tiêu biểu, cụ thể như: Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ sự cần thiết của quản lý HĐHT nhằm hình thành phát triển các phẩm chất, năng lực cho người học nói chung, cho HS đang học tập ở các cấp học phổ thông nói riêng. Trong đó có thể dẫn ra một số ấn phẩm nổi bật mà tác giả luận văn được biết, như: Quản lý hoạt động học tập theo hướng phát triển năng lực là giúp người học thấu hiểu “Học để làm gì - Học cái gì” để có năng lực đích thực, đồng 9 thời bồi dưỡng cho người học cách “Học hiệu quả” để có năng lực bền vững thể hiện qua nghiên cứu luận án tiến sĩ quản lý giáo dục của tác giả Trần Trung Dũng (2016), về “Quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh”.
Tác giả Nguyễn Văn Định, qua nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng và đề xuất 6 giải pháp quản lý HĐHT của HS các trường trung học phổ thông, cụ thể là: (1) Tổ chức quản lý tốt kỷ luật HT; (2) Xây dựng môi trường HT; (3) Xây dựng và nâng cao năng lực của cán bộ quản lý và GV; (4) Phối hợp chặt chẽ với gia đình và lực lượng giáo dục; (5) Chú ý giúp đỡ từng HS cụ thể; (6) Thi đua khen thưởng nhằm đưa GD&ĐT của vùng theo kịp các vùng kinh tế, xã hội khác, đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục [8]. Luận án tiến sĩ của tác giả Thiều Văn Nam (2021), về “Quản lý HĐHT theo tiếp cận năng lực của HS ở các Trường Phổ thông dân tộc nội trú Khu vực Tây nam bộ” [17].