Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường trung học cơ sở. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở các trường trung học cơ sở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở các trường trung học cơ sở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Khổng Tử, nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc cho rằng: Giáo dục là cần thiết cho mỗi người, một thành tố không thể thiếu được của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Về phương pháp giáo dục, Khổng Tử coi trọng việc tự giáo dục, tự rèn luyện, phát huy mặt tích cực, sáng tạo của người học.
Khổng Tử cho rằng người học phải có nhu cầu nhận thức, ham hiểu biết, khám phá cái mới; phải độc lập suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình nhận thức. Người dạy không chỉ truyền đạt tri thức mà cơ bản là dạy năng lực sáng tạo, dạy phương pháp để người học tự tìm đến tri thức. Ông nói: “Kẻ nào không cố công tìm kiếm, ta chẳng chỉ vẽ. Kẻ nào không bộc lộ tư tưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho.
Kẻ nào ta dạy mà không biết hay ta chẳng dạy”. Tư tưởng về phương pháp giáo dục của Khổng Tử đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Từ thế kỷ XIV, vấn đề dạy học và quản lý dạy học đã được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu và công bố nhiều công trình có giá trị như: Các nhà giáo dục Xô Viết V. đã công bố nhiều tác phẩm nổi tiếng về công tác quản lý trường học.A Xu khomlinxki rất coi trọng dự giờ, phân tích giờ dạy, bồi dưỡng đội ngũ để GV nâng cao trình độ.Pxtrezicondin đi sâu phân tích công tác kế hoạch hóa trong quá trình quản lý, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho GV.
Về quản lý quá trình dạy học, Zakharôp rất quan tâm thu thập, phân tích những số liệu, chỉ số phản ánh tình hình giảng dạy, học tập, việc phối hợp trong Ban giám hiệu nhằm giúp đỡ GV tiến bộ về phương pháp dạy học [30]. Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định hiệu trưởng nhà trường là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác 8 quản lý nhà trường; xây dựng được đội ngũ GV tâm huyết với nghề, chuyên môn vững, sáng tạo trong lao động, ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm là yếu tố quyết định thành công trong quản lý hoạt động dạy học; kết quả dạy học của nhà trường phụ thuộc nhiều vào biện pháp quản lý đúng đắn và hợp lý của người hiệu trưởng. Trong công tác quản lý nhà trường phổ thông thì quản lý hoạt động dạy học là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nhất. Quản lý hoạt động dạy học là bộ phận cấu thành chủ yếu của QLGD.
Kết quả quản lý nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động dạy học. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy vấn đề dạy học và quản lý hoạt động dạy học được nghiên cứu một cách hệ thống, cơ sở lý luận đó được đúc kết từ thực tiễn quản lý, phát triển theo từng giai đoạn lịch sử; khẳng định giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong phát triển nhân cách con người và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý hoạt động dạy học nhân tố người thầy và tính tích cực, chủ động của học trò. Những nghiên cứu ở trong nước Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công.
Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần; mỗi một người dân khỏe mạnh, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe. Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe” [22]. Thấm nhuần lời dạy của Người, toàn dân tộc Việt Nam, trong đó có lực lượng học sinh, sinh viên đang ra sức thi đua học tập, rèn luyện, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục và phát triển giáo dục trong nhà trường có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dưỡng nhân tố con người.
Đồng thời góp phần 9 nâng cao thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa và phát huy tinh thần dân tộc của con người Việt Nam, tăng cường và giữ vững an ninh quốc phòng cho đất nước. Trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam trước hết phải nói đến quan điểm phát triển giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969). Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và việc vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về vai trò của giáo dục, định hướng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, các phương thức dạy học, vai trò của quản lý và CBQL giáo dục, phương pháp lãnh đạo và quản lý. Thực tiễn đã khẳng định rằng: Hệ thống các tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam.
Gần đây, có nhiều công trình khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu, giảng viên đại học. viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã dược công bố, đó là các sách, giáo trình của: Phạm Thành Nghị, Đặng Bá Lãm, Đặng Hữu Đạo, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Chân, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Đình Am. Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học quản lý như: Khái niệm quản lý; bản chất của hoạt động quản lý; các thành phần cấu trúc, các giai đoạn của hoạt động quản lý; đồng thời chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý. Tuy nhiên, những thành tựu đó cũng chỉ dừng lại ở mức độ lý luận, sử dụng làm tài liệu giảng dạy.
Có nhiều tác giả nghiên cứu về lý luận quản lý giáo dục, các giải pháp, kinh nghiệm quản lý rút ra từ thực tiễn của giáo dục Việt Nam. Vấn đề đổi mới quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường, được nhiều tác giả nghiên cứu một cách khoa học và có hệ thống như: Tác giả Trần Kiểm 10 với công trình nghiên cứu “Khoa học QLGD, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản, cần thiết cho chủ thể quản lý vận dụng trong quá trình quản lý nhà trường [17]. Tác giả Nguyễn Kỳ trong “Một số vấn đề QLGD” (Trường bồi dưỡng CBQLGD, năm 1998) thì phân tích tổng quan các nội dung quản lý nhà trường [18]. Các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quang Kính, Phạm Đỗ Nhật Tiến (2007) trong công trình “Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường” thì tập trung phân tích các yếu tố ảnh hướng đến công tác quản lý nhà trường và chỉ ra các biện pháp để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà trường cho chủ thể quản lý [5].
Một số tác giả đi sâu nghiên cứu quản lý nhà trường bằng phương pháp tâm lý sư phạm như tác giả Vũ Dũng trong công trình “Tâm lý xã hội với quản lý” công bố năm 1995, tác giả Nguyễn Bá Dương trong công trình “Tâm lý học dành cho người lãnh đạo” công bố năm 1995. Về phạm trù GDTC trong nhà trường, trong cuốn Tuyển tập nghiên cứu khoa học GDTC, y tế trường học (Bộ GD&ĐT, NXB TDTT năm 2006), đã công bố công trình nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh vực GDTC và y tế trường học. Trong số các nghiên cứu này có thể kể đến công trình của Ngũ Duy Anh và Vũ Đức Thu trong đề tài: Định hướng chiến lược tăng cường GDTC, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe HS trong nhà trường phổ thông các cấp đến năm 2010. Trong đề tài này, các tác giả đã đưa ra mục tiêu định hướng lâu dài, mục tiêu trước mắt 2003 - 2010 và đồng thời đưa ra các giải pháp chiến lược nhằm thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra.
Trong nghiên cứu khoa học của tác giả Ngũ Duy Anh và Trần Văn Lam với nội dung nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao công tác GDTC trường học các tác giả đã đánh giá thực trạng về các hoạt động GDTC đồng thời vạch ra những khó khăn yếu kém và đề ra mục tiêu, giải pháp để khắc phục những hạn chế còn 11 tồn tại. Phạm vi nghiên cứu đề tài này thực hiện trên các địa phương cả nước do đó nó thể hiện được bức tranh tổng thể công tác GDTC. Nhưng hạn chế của nó là chưa thể hiện được sự khác biệt giữa các vùng miền, địa phương và các giải pháp tương ứng. Các tác giả đã nghiên cứu thực trạng GDTC, nghiên cứu lý luận về GDTC, đưa ra các tiêu chí đánh giá GDTC, xây dựng một số biện pháp tác động, đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp.
Đây là những công trình nghiên cứu có chiều sâu về lý luận và phần thực trạng, đưa ra các biện pháp, thực nghiệm công phu. Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực GDTC song chủ yếu mang tính tổng quát trên phạm vi rộng hoặc các biện pháp áp dụng cho việc vận dụng phương pháp, sử dụng các bài tập cụ thể. Việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDTC cho cấp học THCS nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động GDTC là chưa được đề cập nhiều. Các thành quả nghiên cứu nêu trên của các nhà khoa học trong và ngoài nước là những tri thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý GDTC trong trường THCS.
Một số khái niệm cơ bản 1. Thể chất Thể chất là chất lượng cơ thể con người, đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái, chức năng cơ thể hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện) [35, tr.