phần mở đầu; phần nội dung có 3 chương, 9 tiết; phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các bản phụ lục. Luan van 15 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Các khái niệm công cụ của đề tài 1. Khái niệm đạo đức học sinh Dưới góc độ xã hội, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, quy tắc điều chỉnh (hoặc chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao động, người khác và với chính bản thân mình.
Đạo đức g m một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người; được hình thành, phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và mọi người tự giác thực hiện. Đạo đức là văn hóa của cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức của cá nhân và cũng là trình độ dân trí xã hội. Mỗi hình thái kinh tế hay mỗi giai đoạn đều có quy tắc sống không ghi thành văn bản nhưng có vị trí to lớn trong đời sống của cộng đ ng. Đạo đức định hướng giá trị cuộc sống của mỗi cá nhân và điều chỉnh các hành vi xã hội, đạo đức thúc đẩy xã hội tiến đến trình độ văn minh.
Dưới góc độ của khoa học giáo dục, đạo đức được xem xét dưới hai phương diện. Về phương diện cá nhân, đạo đức là hệ thống thái độ ứng xử và thói quen hành vi tốt đẹp của con người phù hợp với chuẩn mực giá trị của xã hội; là những phẩm chất nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình. Đạo đức là một phần cơ bản của nhân cách, theo quan điểm truyền thống phương Đông, thì nhân cách của con người g m hai mặt là " " và "Tài". Trong đó " " bao giờ cũng được coi là cái gốc của các giá trị khác.
Về phương diện xã hội, đạo đức là hệ thống chuẩn mực giá trị quy Luan van 16 định các mối quan hệ của cá nhân với những người khác. Chuẩn mực đạo đức là những yêu cầu khách quan của xã hội nhưng được cá nhân ý thức và chiếm lĩnh nó, chuyển hoá thành hệ thống thái độ, hành vi của bản thân. Con người sinh ra không phải đã có đạo đức mà thông qua giáo dục, thông qua các hoạt động, giao lưu làm cho những quy định của xã hội thâm nhập vào mỗi cá nhân và trở thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Từ phân tích lý luận chung về đạo đức, cho phép chúng ta rút ra quan niệm về đạo đức học sinh: ữ ẩ.
Đạo đức học sinh là đạo đức của một thế hệ người đang được học tập, rèn luyện trong nhà trường có sự quản lý, tổ chức và định hướng của nhà trường. Đạo đức học sinh vừa phản ánh đặc điểm riêng của cá nhân, vừa mang bản chất xã hội. Đạo đức của học sinh THCS là đạo đức của học sinh ở một lứa tuổi cụ thể. Mỗi độ tuổi khác nhau có những yêu cầu khác nhau về chuẩn mực giá trị đạo đức.
Những chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội được nhà trường chọn lọc, gia công sư phạm thành những phẩm chất đạo đức phù hợp với đặc điểm lứa tuổi mà học sinh có thể hấp thụ được và chuyển hoá thành phẩm chất đạo đức của bản thân. Khái niệm giáo dục đạo đức cho học sinh Đạo đức không phải “từ trên trời rơi xuống”, mà đó là kết quả của quá trình rèn luyện kiên trì, bền bỉ hàng ngày của mỗi người. Đạo đức học sinh được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục, có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của nhà trường. Tức là, có sự quản lý, điều khiển của các nhà quản lý giáo dục.
Nhà quản lý có chức năng tổ chức, điều khiển quá trình giáo dục, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức Luan van 17 GDĐĐ sao cho phù hợp với lôgíc hình thành phát triển nhân cách học sinh, phù hợp với mục tiêu yêu cầu giáo dục chung của nhà trường. Tiếp cận dưới góc độ hoạt động nhân cách, thì bản chất của giáo dục là sự tác động qua lại giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, thông qua tổ chức cuộc sống, hoạt động, giao lưu, nhằm nâng cao nhận thức, hình thành tình cảm, thái độ, niềm tin, rèn luyện thói quen hành vi đạo đức tốt đẹp theo mục tiêu giáo dục của nhà trường và phù hợp với chuẩn mực giá trị của xã hội. Đạo đức, nhân cách của học sinh được hình thành, phát triển trong quá trình giáo dục của nhà trường. H Chí Minh đã khẳng định: “H ữ í ẵ ầ ”.
Giáo dục can thiệp vào tất cả các yếu tố cấu thành nhân cách học sinh. Giáo dục tổ chức cho học sinh tham gia các loại hình hoạt động sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện sư phạm cụ thể. Giáo dục tổ chức xây dựng, cải tạo môi trường và đưa học sinh vào những môi trường thuận lợi cho sự phát triển đạo đức, nhân cách. Giáo dục phát hiện ra những ưu điểm, nhược điểm trong cấu trúc tố chất bẩm sinh, di truyền của học sinh để có những biện pháp tác động sư phạm nhằm kích thích, phát triển những tố chất tốt đẹp và khắc phục những tố chất xấu, làm cho đạo đức, nhân cách học sinh ngày càng hoàn thiện.
Có thể quan niệm: G q í ổ ợ ữ ợ ằ ể ữ ẩ ị x ẩ ng. M í là trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về các mối quan hệ xã hội, về lối sống nhân văn, nhân đạo, nhân quyền. Hình thành cho học sinh thái độ, tình cảm, niềm tin trong sáng đối với mọi người xung quanh. Rèn luyện để mỗi người tự giác rèn luyện và Luan van 18 thực hiện các chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành các quy định của tập thể học sinh, của cộng đ ng, nỗ lực học tập để cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc, nhằm phát triển toàn diện nhân cách của học sinh.
Điều 27, Luật giáo dục sửa đổi năm 2009 xác định: "M ổ ô ể í ẩ k ă ằ V N x ĩ x ô ẩ ị x Tổ Q ". Như vậy, GDĐĐ cho học sinh THCS là một nội dung, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện con người theo mục tiêu, yêu cầu của xã hội. C ể là các nhà giáo dục trong nhà trường. Chủ thể giáo dục là những nhà giáo dục chuyên nghiệp, nhà sư phạm được đào tạo cơ bản có đủ phẩm chất, năng lực để tiến hành các hoạt động giáo dục.
Trong thực tiễn, tham gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh còn bao g m cả các tổ chức giáo dục trong nhà trường, xã hội và gia đình của học sinh. Đó là những môi trường gần mà học sinh thường xuyên tham gia sinh hoạt, thường xuyên tác động đến cuộc sống, hoạt động, giao lưu của học sinh. Đó là những người đang học tập, rèn luyện để trở thành một thành viên đầy đủ của xã hội. Học sinh là những người ở độ tuổi đang hoà nhập vào xã hội, đang hình thành các quan điểm, thái độ, hành vi.
Mọi sự tác động của xã hội, của nhà trường, gia đình đối với học sinh đều để lại những dấu ấn đầu tiên trong tâm h n của họ, có tác động rất sâu sắc. Tác động tích cực sẽ hướng cho học sinh hình thành những biểu tượng tốt đẹp và ngược lại, tác động tiêu cực sẽ để lại trong tâm h n học sinh những biểu tượng xấu. Luan van 19 Chủ thể giáo dục thông qua các hoạt động dạy học, tổ chức cuộc sống, giao lưu và các loại hình hoạt động khác để giáo dục. Phương thức giáo dục chủ yếu trong nhà trường là thông qua dạy học để nâng cao nhận thức, xây dựng niềm tin đạo đức tốt đẹp.
Đ ng thời giáo dục trong nhà trường phải thông qua tổ chức cho học sinh tham gia vào các loại hình hoạt động, giao lưu để hình thành các mối quan hệ xã hội tốt đẹp, đ ng thời hình thành hệ thống thái độ tích cực đối với con người và thế giới chung quanh. Khái niệm quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Q q ổ ợ ợ k ể ằ q ễ k ợ ể ữ ẩ ị x ẩ ợ. M í q cho là đảm bảo cho các hoạt động giáo dục diễn ra theo một hệ thống nhất quán, phù hợp với quy luật giáo dục, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm lực của nhà trường và xã hội cùng tham gia vào quá trình giáo dục. GDĐĐ cho học sinh là một nhiệm vụ trung tâm của nhà trường, đòi hỏi mọi giáo viên, mọi tổ chức lực lượng trong nhà trường cùng phải tham gia.
GDĐĐ cho học sinh không phải chỉ bằng những bài giảng về đạo đức công dân, mà phải thông qua mọi loại hình hoạt động đa dạng của nhà trường. Điều đó đòi hỏi quá trình GDĐĐ cho học sinh cần phải được quản lý, tổ chức theo một kế hoạch chung, thống nhất cho mọi lực lượng, mọi hoạt động. QLGDĐĐ cho học sinh có nhiệm vụ huy động mọi tiềm lực và tổ chức, phối hợp các lực lượng cùng tham gia vào quá trình giáo dục. Đảm bảo cho hoạt động của các lực lượng không mâu thuẩn với nhau mà phải cùng hướng tới một mục tiêu chung của nhà trường.
Luan van 20 N q là quản lý toàn bộ các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục và mọi hoạt động của các lực lượng đó. Phương thức quản lý chủ yếu là thông qua hệ thống kế hoạch giáo dục của nhà trường. GDĐĐ cho học sinh bao giờ cũng diễn ra theo những quy luật của quá trình giáo dục, người quản lý có chức năng nắm quy luật đó và đề ra các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động giáo dục sao cho phù hợp với quy luật. Trên cơ sở đó, xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục cho từng loại đối tượng, dự kiến phân chia thời gian theo thời khóa biểu của từng tuần, từng tháng, từng quý, từng học kỳ đến cả năm học, cả khoá học.