Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho sinh viên. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Quy Nhơn. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Quy Nhơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trong vài thập kỷ lại đây, công tác GDTC trường học đã trở thành quốc sách của nhiều nước, đặc biệt là một số nước phát triển và đang phát triển như Mỹ, Nga, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ở Mỹ, trong những năm gần đây, trong công tác quản lý hoạt động GDTC đã coi trọng đổi mới chương trình đào tạo, coi trọng và tăng cường các môn học tự chọn, đồng thời chú trọng cải tiến phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tự giác tích cực của người học và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và GDTC nói riêng. Ở Liên Xô cũ cũng chú trọng công tác quản lý TDTT trường học và thể thao thành tích cao.
Tác giả Novicop Mát vê ép đã có các công trình nghiên cứu về quản lý TDTT trong GDTC của đã hình thành hệ thống nguyên lý phương pháp và phương thức quản lý TDTT trường học. Tác giả Philin cũng đã nghiên cứu đưa ra hệ thống phương pháp quản lý huấn luyện vận động viên thể thao trẻ. Ở Nhật Bản, các nhà khoa học lại chú trọng xây dựng hệ thống hợp tác không gian (Space Collaboration System) trong dạy học nói chung và dạy học TDTT nói riêng. Ở Hàn Quốc, các nhà khoa học chú trọng xây dựng các trung tâm công nghệ đa phương tiện (Multimedia) trong dạy học.
Trung Quốc là nước đang phát triển và là một cường quốc về TDTT, bởi vậy việc nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý TDTT nói chung và tổ 8 chức quản lý hoạt động GDTC trường học nói riêng hết sức được coi trọng. Chỉ tính từ năm 1996 đến 2004, trong 8 năm đã có hàng chục công trình nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý TDTT và quản lý hoạt động GDTC trường học, nổi bật nhất là các công trình của: Trần Hiếu Tân (1990) nghiên cứu về quản lý giáo dục, đã khái quát cơ sở lý luận và xây dựng nên các nội dung phương pháp, phương thức quản lý giáo dục của Trung Quốc. Các giáo sư bộ môn Quản lý học của học viện TDTT Bắc Kinh (1988), Chu Nghiêm Kiệt (1988), Trương Lê Chính (1990) đã xây dựng các giáo trình về quản lý TDTT trường học giúp các giảng viên, cán bộ quản lý GDTC có được các kiến thức cơ bản trong quản lý TDTT trường học. Ngoài ra còn rất nhiều các tác giả nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của quản lý TDTT như: - Tôn Chí Kiên (1998), Thiệu Nhiên Mạc (2000) nghiên cứu về quản lý sân bãi tập luyện của các trường học và của các cơ sở tập luyện.
- Vương Nghị Cương (1999), Vương Lộ Đức (2001) nghiên cứu về hệ thống quản lý các môn học cơ sở ở các trường đại học, cao đẳng và quản lý các số liệu kiểm tra thể chất nhân dân. - Vương Chí Kiên (1999) nghiên cứu các biện pháp tiếp tục bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên TDTT. - Hà Xuân Lợi (2003) nghiên cứu hiện trạng và cơ chế vận hành quản lý nguồn nhân lực TDTT ở các trường đại học, cao đẳng Trung Quốc. Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài ta có thể dễ dàng nhận thấy các tác giả đã quan tâm đi sâu nghiên cứu để xây dựng hệ thống lý luận quản lý đồng thời đưa ra các biện pháp để đi sâu vào quản lý các lĩnh vực khác nhau của công tác tổ chức quản lý TDTT nói chung, GDTC nói riêng.
Ở trong nước Trong mười năm trở lại đây, ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều tác giả quan tâm đến các giải pháp và biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng gdtc cho học sinh, sinh viên trường học các cấp. Trong đó phải kể đến các công trình sau: - Nguyễn Văn Thế (2000) với đề tài “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao thể lực cho học viên hệ đào tạo dài hạn ở học viện kỹ thuật quân sự”. - Phạm Kim Lan (2001) với đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng GDTC ở Học viện Ngân hàng- Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh”. - Đào Xến (2001) với đề tài “Những biện pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng GDTC ở trường Đại học Cần Thơ”.
- Phan Sinh (2003) với đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và thể thao ở trường Cao đẳng công nghiệp Việt Hưng, Hà Tây”. - Vũ Đức Văn (2008) với đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh trung học cơ sở của thành phố Hải Phòng”. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây còn có một số công trình khoa học nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục thể chất trong trường CĐ, ĐH tiêu biểu như sau: - Nguyễn Thị Trâm và Bùi Thị Hiền (2011) với công trình: “Đổi mới phương pháp giáo dục thể chất cho sinh viên Đại học, Cao đẳng theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học”, công bố trên Tạp chí Giáo dục số 259, kỳ 1 - 2/2011. - Phạm Đình Tâm (2014) với công trình: “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà 10 Nội”, được công bố trên tạp chí Giáo dục số 330, kỳ 2 - 3/2014.
- Hà Thị Hải Thi (2014) với công trình: “Hình thức tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây”, công bố trên tạp chí Giáo dục số 339, kỳ 1 - 8/2014. - Lê Trọng Đồng (2015) với công trình: “Tính tự giác, tích cực của sinh viên Trường Đại học Hồng Đức trong giờ giáo dục thể chất”, công bố trên Tạp chí Giáo dục số 357, kỳ 1 - 5/2015. - Nguyễn Thị Thu Hồng (2015) với công trình: “Thực trạng công tác giáo dục thể chất ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây”, công bố trên Tạp chí Giáo dục số Đặc biệt, tháng 3/2015. - Nguyễn Văn Hồng và Dương Xuân Lượng (2016) với công trình: “Nhận thức của sinh viên khoa giáo dục thể chất Trường Đại học Tây Bắc về hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ”, công bố trên Tạp chí Giáo dục số đặc biệt, kỳ 1 - tháng 7/2016.
Qua các công trình của các tác giả trong nước, ta có thể nhận thấy: Các công trình đều đã quan tâm nghiên cứu các biện pháp quản lý để góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC cho học sinh, sinh viên ở trường học các cấp. Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học. Tóm lại tất cả các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước nêu trên, các tác giả mới chỉ đề cập tới những vấn đề cơ bản về công tác quản lý GDTC trường học cũng như thực trạng công tác quản lý GDTC, đồng thời ở các góc độ khác nhau đã đề xuất các giải pháp tổng hợp cả biện pháp chuyên môn, biện pháp xã hội hoá với biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh, sinh viên trong trường học các cấp. Song chưa có đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Quy Nhơn trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, việc nghiên cứu 11 đề tài này trở nên cần thiết và cấp bách trong giai đoạn đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục và đào tạo như hiện nay. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý là một chức năng lao động xã hội được bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động, nó ra đời khi xã hội cần có sự chỉ huy, điều hành, phân công, hợp tác, kiểm tra, chỉnh lý…Trong lao động tập thể trên một quy mô nào đó để đạt năng suất cao hơn, hiệu quả tốt hơn thì phụ thuộc rất lớn vào vai trò của người đứng đầu một tổ chức.
Như vậy, quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Thực tế đã chứng minh rằng, loài người đã trải qua nhiều hình thái phát triển xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự tồn tại, ổn định và phát triển xã hội. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất.
Khái niệm quản lý được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau. Chính từ sự đa dạng về cách tiếp cận dẫn đến sự phong phú về các quan niệm quản lý. Frederik Winslon Taylo (1856-1915), được coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ”. Ông cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [[22], tr.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý được coi là kinh điển nhất được hiểu là quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể 12 (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [[10], tr. Hiện nay hoạt động "quản lý" được định nghĩa rõ hơn: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra" [[10], tr. Theo tác giả Hồ Văn Vĩnh: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [[37], tr.