Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở trường THPT. Thực trạng quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƢ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƢỜNG Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Về các xu hướng nghiên cứu tư vấn tâm lý học đường * Xu hướng thứ nhất: nghiên cứu thực trạng nhu cầu tư vấn tâm lý học đường Nội dung nghiên cứu: Thường tập trung vào nhu cầu tư vấn, các vấn đề cần tư vấn, số lần đến phòng tâm lý học đường, nguyên nhân cản trở đến các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn. Những đánh giá theo nghiên cứu của xu hướng này cho thấy học sinh cần được hỗ trợ tâm lý thường là bạo lực học đường, các mối quan hệ xã hội, định hướng giá trị, bắt nạt học đường, kĩ năng giải quyết các vấn đề, khó khăn trong học tập, giá trị sống, kỹ năng sống.
Các kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, tần suất đến phòng tâm lý học đường của học sinh là khá hạn chế vì họ bị cản trở bởi nhiều nguyên nhân, như: suy nghĩ đến phòng tư vấn tâm lý là có vấn đề, lo ngại về tính bảo mật của thông tin cá nhân, học sinh không đủ thời gian vì lịch học tại trường bị khép kín, sự phức tạp của một số quy trình tư vấn tâm lý, nhiều giáo viên tư vấn lúng túng và không hỗ trợ thỏa đáng cho học sinh do nghiệp vụ tư vấn còn hạn chế. * Xu hướng thứ hai: phát triển các thang đo về nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý Mới đầu, những nghiên cứu về nhu cầu tư vấn tâm lý theo xu hướng điều tra được thực hiện dựa trên một số công cụ và phương pháp đơn giản như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn trọng tâm và bảng hỏi, các công cụ đánh giá về nhu cầu ở học sinh. Từ đó, nhằm đánh giá chính xác, khách quan và khoa học về thực trạng nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý ở học sinh, các nhà khoa học tâm lý đã xây dựng và phát triển các thang đo về nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý để đảm bảo độ tin cậy. Ở Châu Phi, thang đo "The Students Counseling Needs Scale” (Thang đo nhu cầu tư vấn cho học sinh) của Nyutu (2007) được sử dụng khá phổ biến.
Thang đo này cũng được chính Nyutu & Gysbers (2010) sử dụng trong một nghiên cứu gân đây: “Nhu cầu tư vấn của học sinh trung học phô thông Kenya” nghiên cứu được thực hiện trên học sinh THPT ở Kenya. Nghiên cứu một lần nữa khẳng định 5 tầm quan trọng của việc sử dụng công cụ đánh giá để xác định nhu cầu tư vấn tại Kenya thay cho các công cụ đánh giá nhu cầu chung ở học sinh, sinh viên. Xu hướng này vẫn dang rất dược khuyến khích tại các nước Châu Á và Châu Phi. Riêng ở các nước Châu Âu và Mỹ, các nghiên cứu về phát triển thang đo và công cụ đánh giá nhu cầu tư vấn, tư vấn tâm lý học đường đang dần được chú trọng.
Các công cụ này hỗ trợ rất lớn cho các nhà tư vấn xây dựng mô hình tư vấn, đáp ứng đúng nhu cầu của học sinh, sinh viên như McGannon, Carey & Dimmitt (2007) có nhận định: “Tư vấn học đường có tiềm lực to lớn trong việc giúp học sinh, sinh viên đạt các tiêu chuẩn cao hơn trong các lĩnh vực học đường và cuộc sống; điều này phần lớn phụ thuộc vào các công cụ đo lường nhu cầu tư vấn, hỗ trợ tâm lý và các phương pháp cải thiện hành vi của học sinh, sinh viên” (Corey Gerald (1991), Theory and Practice of Counserling and Psychotherapy, Brooks/Cole Publishing Company). * Xu hướng thứ ba: nghiên cứu xây dựng các mô hình tư vấn tâm lý học đường thay đổi nội dung, chương trình hoạt động tư vấn học đường. Ở Mỹ có mô hình tư vấn học sinh dựa trên kinh nghiệm; mô hình tư vấn của Trường Illinois, mô hình tư vấn của Trường đại học tổng hợp Winsconsin và đặc biệt là mô hình tư vấn chuyển đổi của các tác giả Eschenauer và Chen - Hayes dành cho các trường học ở đô thị. Bên cạnh đó, còn có các mô hình tâm lý học đường như mô hình phân phối dịch vụ tâm lý học, trường học 3 tầng (năm 2008), mô hình dịch vụ tư vấn học đường tích hợp và toàn diện (năm 2010).
Ở Pháp đã hình thành một mạng lưới hỗ trợ đặc biệt (RASED). Đây là mô hình trợ giúp đặc biệt bao gồm những hoạt động cùng nhau phòng ngừa và khắc phục khi giáo viên không có biện pháp thay thế nào. Mạng lưới RASED có hai nhiệm vụ chính là phòng ngừa và hỗ trợ. Ở Singapore có mô hình Dịch vụ chăm sóc học sinh (Student Care Service - SCS).
Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho học sinh các cấp. Các nghiên cứu đã cho thấy được nội dung, đặc điểm, biểu hiện, mức độ của nhu cầu được tư vấn hỗ trợ tâm lý học đường cho học sinh khi học sinh có khó khăn tâm lý. Các nghiên cứu này nói chung đều có thể được ứng dụng hiệu quả trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch chẩn đoán, phòng ngừa và can thiệp sớm trong học đường. 6 Hiện nay, Hiệp hội các nhà Tâm lý học đường ở nước Mỹ được xem là kiểu mẫu cho các chương trình tư vấn hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới.
Hiệp hội này, hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới. Các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến và không thể thiếu dược trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Nga, Đức. và nhiều quốc gia khác trên thể giới. Như vậy, trên thế giới các nghiên cứu theo ba khuynh hướng trên đã góp phần giúp các nhà quản lý ở các trường phổ thông và đại học có cơ sở để tìm các biện pháp tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh một cách bài bản, khoa học và hiệu quả nhất.
Về nghiên cứu tâm lý học đường hiện nay Để triển khai tốt các vấn đề nghiên cứu theo hướng mới, việc cập nhật lí luận mới, việc khai thác lựa chọn các phương pháp, kĩ thuật đo đạc, đánh giá hiện đại từ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng và đã được quan tâm thực hiện. Cụ thể có các công trình nghiên cứu hiện nay như sau: * Đối với lứa tuổi Mầm non, nhiều đề tài nghiên cứu đã được đánh giá nghiệm thu cùng với hàng chục luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Tâm lí học: Hồ Lam Hồng (2002), Đặc trưng tâm lí trong hoạt động ngôn ngữ của lứa tuổi Mầm non (5- 6 tuổi); Ngô Công Hoàn (2002; 2005), (Nguyễn Thị Như Mai, 2001), Nghiên cứu tâm - vận động ở trẻ em 5-6 tuổi”. Đặc biệt, công trình nghiên cứu dài hơi trên trẻ từ 0 đến 6 tuổi do Trung tâm Nghiên cứu lứa tuổi trước tuổi học, Viện Khoa học Giáo dục, tiến hành theo một hệ thống 3 đề tài nghiên cứu cấp Bộ nối tiếp nhau được bắt đầu từ năm 1996, nhằm vào 3 độ tuổi của trẻ đã tập trung vào làm rõ các đặc điểm phát triển tâm - vận động và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ (do PGS. Hàn Nguyệt Kim Chi làm chủ nhiệm).
* Đối với lứa tuổi học sinh phổ thông, nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đã được triển khai đánh giá về sự phát triển các chức năng tâm lí ở học sinh, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc thiết kế nội dung chương trình… phù hợp với học sinh. 7 Feldman, RS (2003), “Những vấn đề trọng yếu trong tâm lý học”, NXB Thống kê, Hà Nội. Craig, Don Baucum, Matxcơva (2009), “Tâm lý học phát triển” (người dịch TS Hoàng Mộc Lan và cs), Khoa Tâm lý học, ĐHKHXH & NV (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội.I (2001) “Giáo dục và sự phát triển xúc cảm”, NXB Giáo dục, Hà Nội. Trần Thị Minh Đức (2008), “Các thực nghiệm trong Tâm lý học xã hội”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Oanh xuất bản cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường" được Nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc. Trong nội dung cuốn sách tác giả cũng chỉ rõ nguyên tắc tư vấn tàm lý học đường, quy trình và kỹ năng, kỹ thuật cần thiết dể tiến hành công tác tư vẩn tâm lý. Có thể nói cuốn sách này xuất bản cùng với chuyên mục tư vấn học dường do báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh (tác giả Nguyễn Thị Oanh phụ trách) đã nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo học sinh, phụ huynh và các trường học. Năm 2013, tác giả Nguyễn Công Khanh đã xuất bản cuốn sách “Tư vấn tâm lý tuổi vị thành niên”.
Nội dung cuốn sách đề cập tới những đặc trưng tâm lý cơ bản của trẻ tuổi vị thành niên; nghệ thuật giao tiếp ứng xử với bạn bè, cha mẹ; học cách phòng tránh những hiểm họa từ xa; trắc nghiệm tâm lý để tự biết mình. Năm 2013, tác giả Trương Thị Hằng đã nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động tư vẩn tâm lý học đường cho học sinh THPT Đinh Tiên Hoàng, quận Ba Đình, Hà Nội”. Công trình nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại trong quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường như: cán bộ quản lý, giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý học đường còn thiếu về kỹ năng tư vấn; việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo triển khai, kiểm tra đánh giá hoạt động tư vấn tâm lý học đường còn tồn tại nhiều hạn chế. Năm 2019, tác giả Nguyễn Thị Tình nghiên cứu: “Quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường ở các trường THPT huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai".
Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường đã có nhiều sự thay đổi song vẫn còn tồn tại những hạn chế như việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện tư vấn tâm lý học đường còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, cơ sở vật chất của các phòng tư vấn vẫn chưa được đầu tư đúng mức, chưa thường xuyên, chưa chủ động tìm hiểu vấn đề của học sinh khi xây dựng nội dung tham vấn.