Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH HOẠT CHUYÊN MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ “nghiên cứu bài học” có gốc từ tiếng Nhật (jugyou kenkyuu) và được dịch sang tiếng Anh là Lesson Study hoặc Lesson Ressearch. Từ thời Meiji (1982 - 1912) trong giáo dục Nhật Bản, nghiên cứu bài học được sử dụng trong nhà trường để giáo viên cùng phối hợp với nhau nghiên cứu cải tiến những bài học trong chương trình.
Ngày nay, nghiên cứu bài học đã tiếp tục được phát triển và đi sâu vào đổi mới, cải tiến thực tiễn nhà trường, lớp học từ nhiều khía cạnh, góc độ giáo dục và dạy học. Quá trình nghiên cứu bài học bao gồm ba giai đoạn cơ bản sau: (1) Chuẩn bị cho một bài học minh họa (một giờ học có những giáo viên khác đến dự). Công việc này có thể được tiến hành cá nhân hay nhóm nhưng mỗi giáo viên chịu trách nhiệm chính, đăng ký dạy và thiết kế kế hoạch bài học, xây dựng học liệu, làm đồ dùng dạy học,… (với sự hỗ trợ, chia sẻ của các giáo viên trong nhóm). Thường những tiết học này giáo viên dạy minh họa đều muốn thử áp dụng một ý tưởng, một cải tiến nội dung, phương pháp, cách thức dạy học.
(2) Tiến hành giờ học minh họa: Là một tiết học diễn ra như thường lệ theo kế hoạch dạy học nhưng có các giáo viên khác trong nhóm nghiên cứu, trong trường hay cụm trường đến dự giờ giáo viên dạy và các giáo viên khác quan sát, ghi chép để ghi lại được những diễn biến trong giờ học, những biểu hiện hành vi học tập của học sinh trong những hoạt động, những thời điểm nhất định và thường được quay video. (3) Phân tích bài học và rút kinh nghiệm: Tất cả các giáo viên dự giờ và giáo viên dạy minh họa sẽ cùng nhau ngồi lại sau giờ dạy để cùng nhau trao đổi những suy nghĩ dựa trên những điều quan sát được về các dấu hiệu, hành vi học 8 tập của học sinh trong các tương tác của học sinh với tài liệu, nhiệm vụ học tập, với bạn, với nhóm, với giáo viên,… và cùng thảo luận để hiểu, lí giải những tình huống trong giờ học, những hành vi học tập của học sinh và những nguyên nhân đưa đến những hành vi học tập tốt hoặc chưa tốt cũng như các cách làm để cải tiến, giải quyết các tình huống học tập không thuận lợi cho học tập của học sinh. Bước tiếp theo là thu hoạch của cá nhân, nhóm từ bài học đã được nghiên cứu đó và sẽ khởi đầu cho những suy nghĩ và dự định cải tiến để không ngừng đổi mới thực tiễn và nâng cao chất lượng hoạt động của giáo viên, học sinh và hiệu quả sử dụng phương pháp, kĩ thuật, phương tiện dạy học. Trong ba giai đoạn của nghiên cứu bài học, giáo viên đã tham gia vào một chuỗi các hoạt động cùng đồng nghiệp trong quá trình nghiên cứu thực tiễn của một lớp học, trong một bài học cụ thể: những ý định thiết kế và việc thực hiện của giáo viên dạy minh họa; các kết quả quan sát về hành vi và kết quả học tập của học sinh; cách lí giải cho các biểu hiện học tập và nguyên nhân của chúng; các cách giả định để cải tiến;… Những chia sẻ, trao đổi về chuyên môn xung quanh một bài học được nghiên cứu là cơ hội cho cả giáo viên dạy và giáo viên dự giờ học cách nhìn vào thực tiễn từ những góc nhìn khác nhau; hiểu về những hành động, hành vi, biểu hiện khác nhau của những học sinh trong giờ học; các cách giải quyết khác nhau cho những tình huống thực tiễn;… Vì thế, nghiên cứu bài học được xem là cơ hội cho giáo viên học tập lẫn nhau thông qua quá trình cùng hợp tác nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn lớp học.
Điều đó cho thấy nghiên cứu bài học đã hướng vào cải tiến thực tiễn dạy học (áp dụng phương pháp, kĩ thuật, hình thức tổ chức dạy học,…) qua quá trình cùng hợp tác trong tập thể sư phạm của nhà trường. Kết quả là năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và nghiên cứu của giáo viên được phát triển. Như vậy, quá trình nghiên cứu bài học sẽ tác động đến cả 3 yếu tố: năng lực nghề nghiệp của giáo viên, thực tiễn nghề dạy học và kết quả học tập của học sinh. Việc tổ chức nghiên cứu bài học thường xuyên và huy động sự tham gia của tất cả giáo viên trong trường sẽ thúc đẩy quá trình học tập của mọi giáo viên và nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học trong thực tiễn.
Kết quả là chất lượng học tập 9 của học sinh tất yếu sẽ được cải thiện. Đó chính là động lực để giáo viên hợp tác nghiên cứu, tìm tòi. Hiện nay mô hình nghiên cứu bài học đã được thực hiện ở nhiều nước đặc biệt là Mỹ, Đức, Trung Quốc, Hồng Kông, và một số nước Đông Nam Á (Singapore, Indonesia, Thái Lan,…). Mô hình này được phát triển phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng trường ở mỗi nước.
Nghiên cứu bài học như một hình thức sinh hoạt chuyên môn lấy nghiên cứu cải tiến thực tiễn làm phương tiện để tạo ra môi trường cho các giáo viên học tập từ chính quá trình cùng quan sát, phân tích và suy ngẫm về những cái diễn ra trong những giờ thực học. Nghiên cứu bài học có những dấu hiệu và thuộc tính cơ bản sau: - Thực tiễn một lớp học cụ thể trở thành đối tượng được nghiên cứu cải tiến. - Sự hợp tác giữa các giáo viên trong tất cả các khâu của quá trình nghiên cứu cải tiến bài học. - Quá trình học tập của giáo viên thông qua quan sát, trao đổi, phân tích, lập luận và suy ngẫm về những kinh nghiệm cụ thể diễn ra trong thực tiễn làm việc cùng các bạn đồng nghiệp.
Các nghiên cứu ở trong nước Tại Việt Nam mô hình nghiên cứu bài học đã được dự án hợp tác giữa Bộ GD&ĐT và tổ chức JICA đưa vào áp dụng ở 5 trường Tiểu học thuộc tỉnh Bắc Giang những năm 2006 - 2007. Cho đến nay, ngoài một số trường tham gia dự án JICA, Bộ GD&ĐT vẫn tiếp tục áp dụng mô hình sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học có thêm một số trường Tiểu học khác ở Bắc Giang, các trường trong vùng hưởng lợi của tổ chức PLAN, ở các trường thí điểm nghiên cứu bài học của đại học Cần Thơ, Đại học Sư phạm - đại học Huế cũng đã triển khai hình thức này và đã đưa đến kết quả khả quan. Năm 2007 - 2009 Đại học bang Michigan (Michigan Stale University - MSU) kết hợp với đại học Cần Thơ nghiên cứu vận dụng mô hình nghiên cứu bài học vào thực tiễn lớp học cấp tiểu học và THCS ở vùng khó khăn. Hiểu được sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học trong các năm học 2013 - 2014, 2014 - 2015 nhiều trường THCS, THPT đã chỉ đạo, quán triệt các tổ chuyên môn, giáo viên tìm hiểu, bám sát nội dung 10 chuyên đề “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học” để thực hiện các tiết dạy thao giảng theo nghiên cứu bài học.
Công trình nghiên cứu của Vũ Thị Sơn và Nguyễn Duân năm 2010 “Vận dụng mô hình nghiên cứu bài học vào dạy học ở Tiểu học và THCS: Kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm” đăng trên tạp chí khoa học giáo dục số 61 - tháng 10 năm 2010. Trong thực tiễn giáo dục Việt Nam, mô hình nghiên cứu bài học được vận dụng từ năm 2000 nhưng còn ít và rải rác, chủ yếu ở một số trường Tiểu học, chưa nghiên cứu vận dụng nhiều ở bậc phổ thông. Như vậy, có thể thấy rằng những công trình nghiên cứu về quản lý sinh hoạt chuyên môn khoa học xã hội theo nghiên cứu bài học của Hiệu trưởng trường trung học ở trong nước ta chưa được đề cập đến nhiều. Do vậy tác giả đầu tư, nghiên cứu, đề xuất biện pháp quản lý sinh hoạt chuyên môn khoa học xã hội theo nghiên cứu bài học của Hiệu trưởng trường THPT một cách phù hợp để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường ngày càng tốt hơn.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Trong quá trình phát triển của xã hội, bất cứ một lọi hình lao động nào , một cơ sở, tổ chức có quy mô từ thấp đến cao đều cần có sự tổ chức và điều khiển hoạt động để đạt được các mục đích mà con người mong muốn. Dạng lao động mang tính đặc thù tổ chức - điều khiển các hoạt động theo những tiêu chí, yêu cầu, qui định cụ thể gọi là quản lý. Quản lý thường xuyên biến đổi, phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, có vai trò quan trọng trong đời sống con người, tồn tại trong mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại.
Cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất cao trong nghiên cứu khi bàn về khái niệm quản lý. Tuy nhiên, từ trên bình diện lý luận chung và xuất phát từ các góc độ khác nhau, có thể đề cập đến một số cách tiếp cận khái niệm quản lý như sau: Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung” [1]. 11 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [21]. Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học, địa phương,…) với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra” [8].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra” [9].