Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học ở trường mầm non 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học” (NCBH) (tiếng anh là Lesson Study hoặc Lesson Reserch) được chuyển từ nguyên nghĩa tiếng Nhật (jugyou kenkyuu). Thuật ngữ NCBH có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868-1912) như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của GV thông qua nghiên cứu, cải tiến từng bài học cụ thể.
Cho đến nay, nghiên cứu bài học là một mô hình rất hiệu quả để phát triển nghề nghiệp của GV được sử dụng rộng rãi tại Nhật Bản và đã được giới thiệu ở nhiều quốc gia khác nhau [7, tr. Điều đó chứng minh tính ưu việt và sức hấp dẫn của NCBH. Sự phát triển CM của GV là một hoạt động đại diện của đổi mới giáo dục. Gần đây, trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, NCBH đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới, trong đó có Hoa Kỳ (Fernandez và Yoshida, 2004; Lewis và cộng sự, 2004; Stigler và Hiebert, 1999), Vương quốc Anh (Dudley, 2007; Ruthven, 2005), và Úc (White và Southwell, 2003).
NCBH là một hoạt động phát triển CM có nguồn gốc ở Nhật Bản vào thế kỷ XIX. Nó đã được mô tả trong nhiều tài liệu quốc tế là một quá trình bao gồm các bước sau: (1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học, (2) Quan sát việc thực hiện bài học, (3) Thảo luận về bài học, (4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tùy chọn), (5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tùy chọn) và (6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học (Fernandez và Yoshida, 2004). Nghiên cứu bài học cũng đã được giới thiệu ở nhiều nước châu Á như Brunei (Wood và Mohd Tuah, 2008), In-đô-nê-xi-a (Saito et al 2006a, b, 2007), Malaysia (Lim et al, 2005), Thái Lan (Inprasitha, 2008), và Việt Nam (Saito et al, 2010; Saito và Tsukui, 2008; Wheeler et al 2007, 2011). Sự cần thiết của đổi mới nhà trường dưới góc nhìn của GVOkinawan (Kotoe, Kishimoto, 2014); Thúc đẩy học tập cộng tác ở Việt Nam (Masaaki Sato, 2014).
Nhấn mạnh tầm quan trọng của biện pháp dự giờ, phân tích bài học, các tác giả V.Xukhomlinxki và Xvecxlenrơ cho rằng: “Việc dự giờ và phân tích bài học là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác quản lý quá trình dạy học của GV. Các tác giả cũng đề ra yêu cầu khi phân tích bài học phải nêu cho GV biết cách khắc phục thiếu sót, phát huy các mặt mạnh, nâng cao chất lượng bài giảng và quy trình phân tích một giờ dạy để giúp hiệu trưởng thực hiện có hiệu quả biện pháp quản lý hoạt động SHCM” [29, tr. 6 Mô hình bồi dưỡng GV thông qua SHCM theo NCBH cũng đã được nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Đức, Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia… nghiên cứu, áp dụng và đây là một trong những chủ đề giáo dục được quan tâm trên thế giới. Các nghiên cứu ở Việt Nam Mô hình này được đưa vào vận dụng thí điểm đầu tiên ở Việt Nam là một số trường Tiểu học tỉnh Bắc Giang từ năm học 2006-2007 qua dự án của tổ chức JICA- Nhật Bản “Nâng cao năng lực bồi dưỡng GV theo cụm và quản lý nhà trường”.
Năm 2009, mô hình này được giới thiệu ở trường đại học, cao đẳng sư phạm. Năm 2013, mô hình NCBH được triển khai thí điểm ở một số tỉnh thông qua Chương trình đảm bảo chất lượng GD (SEQAP). Ở Việt Nam, mô hình NCBH có nhiều cách gọi khác nhau như: SHCM mới; SHCM dựa trên NCBH; SHCM theo NCBH hoặc SHCM lấy học sinh làm trọng tâm… Dù được gọi theo những cách gọi khác nhau nhưng chung lại vẫn được triển khai áp dụng thực hiện cơ bản theo triết lí, mục tiêu, phương pháp, kĩ thuật của NCBH. Chính vì những hiệu quả của mô hình SHCM theo NCBH mang lại mà mô hình này cũng được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu như: - Tiến sĩ Vũ Thị Sơn, Nguyễn Duân, 2010, “Nghiên cứu bài học”- một cách tiếp cận năng lực nghề nghiệp của GV (Tạp chí Khoa học giáo dục số 52, tháng 1-2010).
- Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, ĐHSP ĐH Thái Nguyên, 2012, Phương pháp Bồi dưỡng CM nghiệp vụ cho GV, SV Sư phạm thông qua mô hình NCBH (Tạp chí GD, 2012). - Lê Thị Thu Hằng, 2014, “SHCM dựa trên nghiên cứu bài học công cụ đổi mới nhà trường” (Tạp chí Giáo dục số 332 tr.26-28) - Nguyễn Mậu Đức, Hoàng Thị Chiên (2014), Đổi mới SHCM của GVthông qua mô hình nghiên cứu bài học ở Việt Nam, (Tạp chí Giáo dục số 335 tr. - Phùng Xuân Dự (2015), Quản lý SHCM theo NCBH ở trường THCS&THPT Nguyễn Tất Thành – Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục. - Bùi Việt Phú (Chủ biên) – Trần Xuân Bách – Lê Quang Sơn (2019), Công tác quản lý của tổ trưởng CM trường tiểu học, NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
- Vũ Vân Hải (2016), Quản lý SHCM theo nghiên cứu bài học tại các trường tiểu học huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục. - Nguyễn Thị Khánh Vân (2018), Quản lý SHCM theo nghiên cứu bài học ở trường mầm non Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục. - Lê Thị Thường (2019), Quản lý SHCM theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học tỉnh Gia Lai, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục. Hoạt động NCBH là hoạt động then chốt, chủ đạo trong các buổi SHCM, là công việc thường ngày của đội ngũ CBQL, GV ở tất cả các cấp học.
SHCM theo NCBH nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của GV, tạo cơ hội và điều kiện học tập cho tất 7 cả các học sinh. Qua hoạt động CM theo NCBH nhằm phát triển nhà trường một cách bền vững, chính vậy quản lý hoạt động NCBH của Hiệu trưởng nhà trường đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, nhà sư phạm trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Thông qua những nghiên cứu của mình, nhìn chung các tác giả đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của SHCM theo NCBH như: khái niệm NCBH, các bước triển khai NCBH, những lợi ích của NCBH. Tuy nhiên, có rất ít tác giả nghiên cứu việc quản lý SHCM theo NCBH ở trường mầm non.
Do đó, trong đề tài này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề QL SHCM theo NCBH ở trường mầm non. Từ đó, đề xuất các biện pháp QL SHCM theo NCBH ở trong trường mầm non với hi vọng góp phần nâng cao chất lượng dạy chăm sóc, giáo dục trẻ để đáp ứng mục tiêu của GDMN là: “Giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mĩ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1”. Các khái niệm chính 1. Khái niệm quản lý Hoạt động quản lý xuất hiện từ thuở bình minh của loài người và phát triển cùng với sự tiến bộ của xã hội.
Trong quá trình lao động và đấu tranh với thiên nhiên, để sinh tồn và phát triển con người cần phải hợp sức với nhau. Ban đầu là do nhu cầu tự vệ và kiếm sống, về sau là nhằm huy động sức mạnh chung cho các mục đích khác nhau. Những hoạt động cần đến sự phối hợp, điều khiển công việc đều mang dấu ấn của quản lý. Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử hình thành và phát triển của loài người.
Quản lý là dạng lao động đặc biệt, nó đòi hỏi có tính khoa học và nghệ thuật cao; là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. Nghiên cứu về quản lý, Karl Marx viết: “Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở qui mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lý, giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. [17] Chúng ta có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau và quản lý là lao động điều khiển lao động chung. Khi lao động xã hội đạt đến qui mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một hoạt động đặc biệt.
Lúc đó xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên hoạt động quản lý, hình thành nghề quản lý. Quan niệm về quản lý tổ chức có nhiều cách thể hiện: Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng - Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [21] Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách, hoạch định kế hoạch, 8 tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực. để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định.
Khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: F. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.[12] Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra.
Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua nỗ lực của người khác. Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự cùng chung một mục đích.