Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề TCM là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, quản lý của trường tiểu học, nơi thực thi trực tiếp nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh. Trong xu thế phát triển giáo dục hiện nay, các nhà quản lý giáo dục nói chung và người Hiệu trưởng nói riêng phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng quản lý hoạt động đối với TCM của đơn vị mình, để thông qua đó, tác động tích cực vào quá trình nâng cao chất lượng giáo dục. Tác giả Thái Duy Tuyên đã khẳng định: “TCM là tế bào cơ bản giữ vị trí quan trọng nhất trong việc triển khai công tác quản lý đổi mới phương pháp dạy học, là đầu mối để thực hiện các quyết định, các chủ trương của Hiệu trưởng, là nơi tổ chức học tập, ứng dụng, thể nghiệm những lý luận về phương pháp dạy học mới… Để quản lý hoạt động của TCM, trước hết cần cụ thể hóa các chủ trương về đổi mới phương pháp dạy học của các cấp quản lý thành quy định nội bộ để tổ chức thực hiện.
HT cần giao trách nhiệm cho hiệu phó hoặc trực tiếp hướng dẫn TTCM xây dựng kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học cho từng năm học. Đặc biệt, cần đổi mới nội dung sinh hoạt TCM, phải chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên những vấn đề cụ thể của từng môn học. Đồng thời, Hiệu trưởng phải kiểm tra tất cả các khâu, từ xây dựng kế hoạch đến tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch và tự kiểm tra, đánh giá của tổ…”. [31] Trên cơ sở những nhận định đó, tác giả đã đưa ra một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động của TCM trong nhà trường, đó là: lập kế hoạch, xây dựng quy định nội bộ về hoạt động của TCM nhằm đổi mới PPDH; tổ chức, chỉ đạo đổi mới hoạt động của tổ; đổi mới các cách kiểm tra, đánh giá; tạo động lực cho hoạt động của TCM.
Việc nghiên cứu công tác quản lý, xây dựng và phát triển các hoạt động dạy học - giáo dục trong nhà trường nói chung, hoạt động TCM nói riêng ở các trường tiểu học là nhiệm vụ quan trọng và là điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Trong công tác quản lý nhà trường, nếu quản lý có hiệu quả hoạt động của TCM cùng với việc đề ra được các biện pháp quản lý hoạt động của TCM có cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện thực tiễn sẽ là con đường tốt nhất để đạt được chất lượng giáo dục theo mục tiêu đề ra. Những năm gần đây, quản lý hoạt động TCM đã trở thành mối quan tâm chung của CBQL các trường phổ thông và các nhà nghiên cứu về quản lý trường học. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, các nhà nghiên cứu đã đứng trên các góc độ khác nhau để khái quát các biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn, nhưng đều có mục đích chung là nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
Cho tới nay, có rất nhiều công trình 6 nghiên cứu về quản lý hoạt động chuyên môn trong nhà trường, nhiều tác giả đã nghiên cứu các đề tài về quản lý hoạt động TCM góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các địa phương, như: luận văn của Hoàng Quốc Việt “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum” (2016); luận văn của Lê Đại Hành “Một số biện pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường tiểu học thành phố Thanh Hoá (2010); văn của Lê Anh Đông “Biện pháp quản lý tổ chuyên môn ở trường Trung học cơ sở quận Sơn Trà Đà Nẵng” (2013); luận văn của XayKhamPhanh Duangphathai “Biện pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THPT thị xã Thakhek, tỉnh Khammuane nước CHDCND Lào” (2018); luận văn của Vũ Mạnh Cường “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trường THPT Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” (2016). Các công trình nêu trên đã tổng hợp những luận điểm cơ bản về lý luận giáo dục liên quan đến việc quản lý hoạt động của TCM ở các trường học, đã khảo sát công tác quản lý của Hiệu trưởng, của Ban giám hiệu đối với TCM trong các nhà trường ở các địa phương cụ thể, đã giải quyết được một số vướng mắc trong công tác quản lý trường học nói chung và quản lý hoạt động TCM nói riêng. Tuy nhiên, những biện pháp mà các tác giả đưa ra không phải lúc nào cũng phù hợp và giúp giải quyết được triệt để những bất cập trong công tác quản lý của các nhà trường ở những địa phương khác nhau. Các khái niệm chính 1.
Khái niệm Quản lý Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử hình thành và phát triển của loài người. Quản lý là dạng lao động đặc biệt, nó đòi hỏi có tính khoa học và nghệ thuật cao; là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. Nghiên cứu về quản lý, Karl Marx viết: “Bất cứ lao động trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó.
Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở qui mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lý, giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Chúng ta có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau và quản lý là lao động điều khiển lao động chung. Khi lao động xã hội đạt đến qui mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một hoạt động đặc biệt. Lúc đó xã hội hình thành một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên hoạt động quản lý, hình thành nghề quản lý.
Quan niệm về quản lý có nhiều cách thể hiện: Theo từ điển tiếng Việt thông dụng – Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, thuật ngữ 7 quản lý được định nghĩa: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như: xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách, hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hòa, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản như: Tài lực, vật lực, nhân lực, … để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: F.Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Henri Fayol, người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Phạm Minh Hạc: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lý), nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”. [16] Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu.
Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”. [19] Nguyễn Phúc Châu cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (những người bị quản lý) bằng việc sử dụng các phương tiện quản lí nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý”.[10] Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định”. [20] Tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là công việc của nhà quản lý nhằm thiết lập và duy trì một khung cảnh nội bộ trong đó con người làm việc chung theo tập thể có thể thực hiện công việc một cách hữu hiệu để đạt được các mục tiêu”.
Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra. [8] Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều có nội hàm chủ yếu như sau: Quản lý luôn gắn liền với một tổ chức (hệ thống), trong đó chủ thể quản lý với vai trò tác nhân tạo ra các tác động đến khách thể quản lý nhằm đưa tổ chức đạt tới mục tiêu. Khách thể quản lý (có thể là một nhóm người hay một người bị quản lý) tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp các tác động của chủ thể quản lý. Phải có mục tiêu quản lý và mục tiêu hoạt động của tổ chức mà người quản lý và mọi người bị quản lý hướng tới.
Trong thực tiễn, hai mục tiêu nói trên luôn luôn tiếp cận với nhau. Phải có hệ thống phương tiện thực hiện mục tiêu (luật pháp, chính sách và cơ chế; bộ máy tổ chức và nhân sự; cơ sở vật chất; môi trường hoạt động, thông tin cần thiết …).