Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Các quốc gia hiện nay đều coi trọng hoạt động bồi dưỡng phát triển chuyên môn cho giáo viên và gắn hoạt động này với công cuộc đổi mới giáo dục không ngừng diễn ra. Các hoạt động phát triển chuyên môn cho giáo viên được thực hiện ngày càng có tính thực tiễn cao, gắn liền với các hoạt động nhà trường đồng thời dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu khoa học mà ở đó có các hoạt động phân tích lí luận và thực tiễn sâu sắc. Ở Việt Nam, nguồn lực con người có vai trò quan trọng nên Đảng và Nhà nước đã đặt giáo dục là “quốc sách hàng đầu” trong mọi lĩnh vực.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT hiện nay, vai trò của giáo viên nói chung, GVMN nói riêng lại càng quan trọng. Trong thực tiễn, đội ngũ giáo viên luôn là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp giáo dục, là nhân tố chủ đạo quyết định chất lượng giáo dục. Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực và được coi là một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT và hội nhập quốc tế. Nghiên cứu ở nước ngoài Ở Malaysia, hoạt động phát triển chuyên môn liên tục và bồi dưỡng giáo viên là những yếu tố quan trọng giúp duy trì và phát triển năng lực giáo viên ở Malaysia.
Chính phủ đã cung cấp nguồn ngân sách giáo dục khá lớn hằng năm để thực hiện các hoạt động bồi dưỡng giáo viên. Hai dạng khóa học bồi dưỡng được chú trọng đó là các khóa học nâng cao trình độ và khóa học nâng cao kĩ năng, kiến thức cho giáo viên, thường kéo dài dưới một năm. Bên cạnh đó, các nhà trường cũng được khuyến khích thực hiện các chương trình bồi dưỡng tại trường nhằm phát triển và nâng cao kiến thức lí luận và thực tiễn cho giáo viên với những nội dung phong phú, trải rộng dựa trên những nhu cầu của nhà trường. Ở Thái Lan, Bộ Giáo dục Thái Lan đã đưa ra hình thức đào tạo, bồi dưỡng được tiến hành ngay tại các cơ sở giáo dục.
Đó là hoạt động đào tạo dựa vào nhà trường. Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu đào tạo dựa vào nhà trường giúp cho giáo viên có thể áp dụng được phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. Dự án này đã giúp đào tạo được rất nhiều giáo viên có thể thực hiện các hoạt động đổi mới giáo dục một cách hiệu quả: giúp học sinh hứng thú với hoạt động học và tích cực, sáng tạo trong khi học. Ở Singapo, tất cả các giáo viên đều được đào tạo về sư phạm tại một địa chỉ duy nhất: Viện Giáo dục Quốc gia thuộc trường Đại học Công nghệ Nanyang.
Hằng năm các giáo viên cần phải tham gia ít nhất 100 giờ đào tạo bồi dưỡng với nhiều hình thức khác nhau. Các khóa học ở Viện Giáo dục Quốc gia thường tập trung vào các nội 6 dung môn học và sư phạm học. Dựa vào mô hình người giáo viên thế kỉ XXI và khung năng lực giáo viên mà Singapore hiện nay đang theo đuổi và từ đó có thể xây dựng nên những khóa học bồi dưỡng phát triển chuyên môn tương ứng cho giáo viên. Ở Hà Lan, hoạt động đổi mới chương trình giáo dục của Hà Lan hiện nay gắn liền với cách tiếp cận giáo dục dựa vào bối cảnh.
Đây là một cách tiếp cận được vận dụng trong các chương trình môn học và dẫn đến việc đòi hỏi người giáo viên cần được đào tạo, bồi dưỡng để có thể làm chủ và thực hiện hiệu quả các giờ học theo cách tiếp cận mới này. Tiếp cận giáo dục dựa vào bối cảnh được hiểu là việc sử dụng bối cảnh để thực hiện các hoạt động giáo dục, dạy học, nhằm giúp đạt được các mục tiêu về kiến thức khoa học, kĩ năng, thái độ đề ra cho học sinh, qua đó hình thành, phát triển ở học sinh những năng lực cần thiết và hoàn thiện nhân cách. Ở Mỹ, nhiều chính sách, dự án đã được phát triển để đáp ứng các yêu cầu về bồi dưỡng, phát triển chuyên môn cho giáo viên, qua đó có thể giúp giáo viên nâng cao kiến thức cũng như năng lực thực hành sư phạm. Ví dụ như dự án “Không để đứa trẻ nào bị bỏ lại” thực hiện vào năm 2001 đòi hỏi các bang phải đảm bảo việc phát triển chuyên môn trình độ cao cho tất cả các giáo viên.
Tương tự, “Dạy học và nguy cơ: Lời kêu gọi hành động” (năm 2004) đã lưu ý các nhà giáo dục rằng dạy học là một công việc giá trị nhất của quốc gia và khẩn thiết kêu gọi việc giúp đỡ các giáo viên thực hiện hiệu quả công việc của mình và giúp những đứa trẻ học tập chính là sự đầu tư vào tiềm năng con người, là một trong những yếu tố thiết yếu đảm bảo sự tự do và thịnh vượng của Mỹ trong tương lai. Qua đó cho thấy ở các nước trên thế giới từ những nước chậm phát triển, nước đang phát triển và nước phát triển thì công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên được đặc biệt quan tâm 1. Nghiên cứu ở trong nước Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ QLGD là khâu then chốt [16].
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ có nêu rõ: “Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến năm 2020, 100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 60% giáo viên mầm non, 100% giáo viên tiểu học, 88% giáo viên trung học cơ sở và 16,6% giáo viên trung học phổ thông đạt trình độ đào tạo trên chuẩn; 38,5% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 100% giảng viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ” [13]. Trên cơ sở đó, một số tác giả đã có những bài viết, những công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên: Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bất cứ 7 hoàn cảnh nào dù khó khăn đến đâu, ngành giáo dục cũng tìm mọi biện pháp mở trường, lớp (dài hạn, ngắn hạn, cấp tốc, tập trung, phân tán, nhóm nhỏ…) để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ”. Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số bài học về bồi dưỡng đội ngũ [3]. Tác giả Nguyễn Trí cho rằng: “Chú trọng đáp ứng yêu cầu về số lượng song song với việc thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN.
Có bước đi và giải pháp thích hợp để đạt chuẩn đào tạo quy định cho từng giai đoạn. Kết hợp bồi dưỡng theo chu kỳ với các hình thức bồi dưỡng ngắn ngày” [29]. Ở bài viết này, tác giả đề cao lương tâm và nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái, tận tụy thương yêu các cháu, tinh thần tự học tự bồi dưỡng, cải tiến nội dung phương pháp dạy trẻ. Muốn vậy, các cơ quan quản lý giáo dục phải triển khai thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo các chu kỳ, đưa công tác này vào nề nếp và có hiệu quả nhằm hiện đại hóa kiến thức, cập nhật hóa tri thức và phương pháp nuôi dạy trẻ.
Chú trọng bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực qua các chuyên đề của ngành học. Trong thời gian qua, một số luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục (chuyên ngành quản lý giáo dục) đã đề cập tới vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên như: Lê Thị Lâm Trúc với đề tài: Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn cho giáo viên các trường mầm non ngoài công lập Quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng [30]. Nguyễn Thị Ái Tưởng với đề tài: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non ở các trường mầm non Quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng [31]. đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non, đề xuất các biện pháp phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương và nhiệm vụ nơi tác giả đang công tác.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non, huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam”. Với đề tài này, bản thân tôi khảo sát thực tế một số trường mầm non và nêu lên các biện pháp có tính khả thi với mong muốn góp phần đưa công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non của địa phương đi vào nề nếp. Góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL và GVMN đáp ứng yêu cầu NDCSGD trẻ theo chương trình GDMN hiện hành. Các khái niệm chính 1.
Quản lý Trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, các nhà lý luận đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lý: F.W Taylor, nhà quản lý người Mỹ cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Karl Marx viết: “Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lý, giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển, còn một dàn nhạc 8 thì phải có nhạc trưởng. Ở Việt Nam, khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo Từ Tiếng Việt, quản lý là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”.