mở đầu cho chương liên kết hoá học, việc triển khai STEM cho bài này là tiền đề mở đường cho học sinh khám phá các bài tiếp theo. Khả năng tiếp nhận nhiệm vụ và triển khai vấn đề theo stem của học sinh lớp thực nghiệm Lớp chúng tôi thực nghiệm là một lớp theo phân luồng học khối A1 (tổ hợp chuyên đề các môn Toán, Vật lí, Tiếng Anh). Học sinh có tư duy các môn khoa học tự nhiên nhưng lại rất ngại môn Hoá học. Dạy học stem sẽ là cách làm cho các em thấy học Hoá mà như không phải học Hoá, từ đó kích thích khả năng tìm tòi, vận dụng các môn liên quan vào bài học, nhen nhóm thêm niềm yêu thích môn Hoá học, vượt qua cảm giác “ngại môn Hoá”.
NỘI DUNG ĐÃ NGHIÊN CỨU II. Điều tra thực trạng II. Thực trạng về mức độ tiếp cận stem của giáo viên và học sinh + Đối với giáo viên Chúng tôi tiến hành khảo sát 47 giáo viên Hoá học trên địa bàn các trường THPT trong huyện về thực trạng tìm hiểu, nhận thức và áp dụng stem vào công tác giảng dạy thu thì 100% đều đã từng nghe nói đến stem trong đó hơn 51% là đã nắm được rất rõ còn 49% còn mơ hồ. + Đối với học sinh Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát đối với 429 học sinh lớp 10 có chọn môn Hoá học năm học 2022-2023, là đối tượng các học sinh THPT đầu tiên áp dụng chương trình 2018 thì thấy gần 36% đã hiểu rõ và từng tham gia hoạt động stem, gần 34% đã tham gia nhưng chưa hiểu rõ, số còn lại mới chỉ nghe chứ chưa làm và đặc biệt có 30 em ((7%) chưa bao giừo nghe nói đến stem.
Đánh giá của giáo viên và học sinh về tính khả thi và cấp thiết của việc vận dụng dạy học stem vào bài “Liên kết ion” Để có được sự đánh giá về tính cấp thiết và tính khả thi của vận dụng stem vào dạy học bài “Liên kết ion”, chúng tôi tiến hành khảo sát giáo viên Hoá học và học sinh lớp 10 theo hình thức bảng hỏi qua google biểu mẫu. Bảng hỏi thiết kế 4 mức độ về tính cấp thiết gồm không cấp thiết, ít cấp thiết, cấp thiết và rất cấp thiết; đối với tính khả thi, chúng tôi thiết kế 4 mức: không khả thi, ít khả thi, khả thi và rất khả thi để hỏi về 3 vấn đề: một là vận dụng stem trong chương trình Hoá học 10 sách mới; hai là vận dụng stem thiết kế mô hình tinh thể NaCl; ba là vận dụng stem để trải nghiệm nuôi tinh thể alum. Với mức độ không cấp thiết hoặc không khả thi chúng tôi đo bằng 1 điểm, ít cấp thiết, ít khả thi 2 điểm, cấp thiết, khả thi 3 điểm, rất cấp thiết, rất khả thi là 4 điểm. Kết quả thu được tính ra giá trị trung bình dựa vào phần mềm excel như sau Về tính cấp thiết sử dụng stem nghiên cứu sgk Hoá 10 Giáo viên Mức độ không ít cấp thiết cấp thiết rất cấp Tổng cấp thiết thiết Số lựa chọn 1 3 27 16 47 Điểm 1 6 81 64 TB: 3,23 Học sinh Mức độ không ít cấp thiết cấp thiết rất cấp Tổng cấp thiết thiết Số lựa chọn 12 31 235 151 429 Điểm 12 62 705 604 TB: 3,22 Về tính khả thi của việc sử dụng stem trong nghiên cứu Hoá học 10 Giáo viên Mức độ không ít khả thi khả thi rất khả thi Tổng khả thi Số lựa chọn 1 3 27 16 47 Điểm 1 6 81 64 TB: 3,23 Học sinh Mức độ không ít khả thi khả thi rất khả thi Tổng khả thi Số lựa chọn 8 35 232 154 429 Điểm 8 70 696 616 TB: 3,24 Về sử dụng stem thiết kế mô hình tinh thể NaCl Mức độ không ít cấp thiết cấp thiết rất cấp Tổng cấp thiết thiết giáo viên Số lựa chọn 2 8 27 10 47 Điểm 2 16 81 40 TB: 3,0 học sinh 6 Số lựa chọn 12 33 234 150 429 Điểm 12 66 702 600 TB: 3,2 Mức độ không ít khả thi khả thi rất khả thi Tổng khả thi giáo viên Số lựa chọn 0 5 28 14 47 Điểm 0 10 84 56 TB: 3,2 học sinh Số lựa chọn 9 35 228 157 429 Điểm 9 70 684 628 TB: 3,24 Về sử dụng stem trải nghiệm: nuôi tinh thể Alum Mức độ không ít cấp thiết cấp thiết rất cấp Tổng cấp thiết thiết giáo viên Số lựa chọn 2 7 29 9 47 Điểm 2 14 87 36 TB: 3,0 học sinh Số lựa chọn 10 40 214 165 429 Điểm 10 120 642 660 TB: 3,3 Mức độ không ít khả thi khả thi rất khả thi Tổng khả thi giáo viên Số lựa chọn 1 3 30 13 47 Điểm 1 6 90 52 TB: 3,2 học sinh Số lựa chọn 10 40 214 165 429 Điểm 10 120 642 660 TB: 3,3 II.
Đánh giá thực trạng II. Ưu điểm - Lý thuyết stem đã được phổ biến đến hầu hết các giáo viên và học sinh. Nhiều hình thức sinh hoạt stem đã được tổ chức theo đơn vị trường, huyện, tỉnh… - Các bài học của chương trình GDPT 2018 đã được triển khai dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng hơn, phát huy được tính tích cực chủ động của người học. - Mọi người đánh giá cao việc sử dụng stem vào dạy học, đặc biệt là các môn KHTN, thể hiện rõ tính cấp thiết và tính khả thi của việc vận dụng stem bài học và stem trải nghiệm.
Cả giáo viên và học sinh đều cho rằng, sử dụng stem là cấp thiết và có tính khả thi, và khẳng định bài “Liên kết ion” hoàn toàn có tính khả thi khi sử dụng stem, và điều này cũng được đánh giá là cấp thiết trong quá trình thực hiện sách giáo khoa lớp 10 mới. Nhược điểm - Còn một số vẫn thờ ơ với sự đổi mới của giáo dục, chưa quan tâm thích đáng đến sự vận động của ngành, của trường, chưa thực sự tìm hiểu nhưng phương thức dạy học mới để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu mới của chương trình GDPT 2018. - Số giáo viên mới “chỉ nghe nói đến stem chứ chưa thật sự hiểu rõ” vẫn còn, có thể đó cũng là nguyên nhân mà một số học sinh còn xem stem như một hoạt động ở tầm cao mà mình không thích hợp với nó. - Số liệu khảo sát cho thấy sự đổi mới phương pháp giảng dạy, nhất là stem trong bài dạy còn chưa trở thành một hoạt động thường xuyên, quen thuộc.
Các cuộc tập huấn mới chỉ khơi dậy được kiến thức lí thuyết về stem, trên thực tế, giáo viên vẫn còn nhiều người chưa sẵn sàng cho những thay đổi mang tính mới mẻ và tiến bộ mặc dù vẫn tin tưởng rằng đây là một phương án cấp thiết và mang tính khả thi. - Có sự thống nhất giữa kết quả khảo sát của học sinh và giáo viên, và nếu giáo viên thay đổi thì học sinh sẽ thay đổi, ngượcc lại, giáo viên thay đổi chậm sẽ không phù hợp với đòi hỏi của học sinh trong thời đại mới. Thiết kế kế hoạch dạy học stem bài “Liên kết ion” II. Kế hoạch tổng quát bài “Liên kết ion” BÀI 9: LIÊN KẾT ION (CTST) (2 tiết tại lớp + 1 tuần ở nhà) Tiết 1: Mục I Tiết 2: Phần còn lại Yêu cầu cần đạt trong chương trình GDPT 2018 – Trình bày được khái niệm và sự hình thành liên kết ion (nêu một số ví dụ điển hình tuân theo quy tắc octet).
– Nêu được cấu tạo tinh thể NaCl. Giải thích được vì sao các hợp chất ion thường ở trạng thái rắn trong điều kiện thường (dạng tinh thể ion). – Lắp được mô hình phân tử, tinh thể NaCl (theo mô hình có sẵn) 1. Về kiến thức: Trong bài học này, học sinh được học về liên kết ion 1.
Về năng lực 1. Năng lực chung - Tự chủ và tự học: Chủ động, tích cực tìm hiểu về loại liên kết hóa học hình thành giữa kim loại điển hình và phi kim điển hình khi chúng phản ứng với nhau. - Giao tiếp, hợp tác: Sử dụng ngôn ngữ khoa học để diễn đạt sự hình thành các loại ion và liên kết ion; hoạt động nhóm một cách hiệu quả theo đúng yêu cầu của giáo viên, đảm bảo các thành viên trong nhóm đều được tham gia thảo luận và thuyết trình. - Giải quyết vấn đề và sáng tạo: 1.
Năng lực hóa học - Nhận thức hoá học: Trình bày được sự hình thành liên kết ion; nêu được cấu tạo tinh thể NaCl; Giải thích được vì sao các hợp chất ion thường ở trạng thái rắn ở điều kiện thường; Thiết kế được mô hình tinh thể NaCl. 8 - Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học: khám phá, tìm hiểu những bí ẩn của tự nhiên (các tinh thể các chất khác nhau có hình dạng, màu sắc khác nhau, độ bền tinh thể khác nhau…) cũng như ứng dụng trong cuộc sống dựa trên kiến thức về liên kết ion - Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Vận dụng kiến thức để thiết kế được mô hình tinh thể NaCl, giải thích được một số hiện tượng các tinh thể trong tự nhiên có nhiệt độ nóng chảy cao… 3. Về phẩm chất - Chăm chỉ: Trung thực, cẩn thận, tỉ mỉ, kiên nhẫn khi tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết quả thí nghiệm - Có niềm say mê, hứng thú với việc khám phá và học tập môn Hóa học II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 1.
Giáo viên - Giáo án - Phiếu câu hỏi 2. Học sinh - Đọc lại các kiến thức đã học có liên quan ở các bài trước. - Mẫu tinh thể muối ăn - Xiên nhọn, đất nặn 2 màu khác nhau II. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC Tiết 1: (ngày dạy…) 1.
Hoạt động 1: Khởi động 5 phút a. Mục tiêu - Tạo hứng thú và kích thích sự tò mò của học sinh vào chủ đề học tập. Học sinh tiếp nhận kiến thức chủ động, tích cực, hiệu quả. Nội dung: CÂU HỎI KHỞI ĐỘNG Câu 1: Các nguyên tử nhường hoặc nhận e có còn trung hòa về điện không? Chúng mang điện tích âm hay dương? Các phần tử mang điện này được gọi là gì? Câu 2: Dung dịch sodium chloride dẫn điện nhưng dung dịch glucozơ không dẫn điện.
Đó là trong dung dịch sodium chloride có sự hiện diện của các phần tử mang điện là ion Na+ và ion Cl-. Sản phẩm TRẢ LỜI CÂU HỎI KHỞI ĐỘNG Câu 1: - Các nguyên tử nhường hoặc nhận e sẽ không còn trung hòa về điện ( khi đó số p < e hoặc p > e).