Phát triển tư duy sáng tạo qua thí nghiệm sự ăn mòn kim loại trong dạy học hóa học 12

Tài liệu nghiên cứu Skkn thiết kế và sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề trong dạy học chủ đề sự ăn mòn kim loại hoá học 12, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường THPT Hà Huy Tập

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sáng kiến kinh nghiệm

2020-2021

53
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I. Lý do chọn đề tài

Mục đích nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Cấu trúc của sáng kiến

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1. Mỗi một thí nghiệm đều có thể thực hiện các chức năng sau

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Thực trạng sử dụng thí nghiệm trong giảng dạy môn Hóa học

1.2.1.1. Về phía giáo viên
1.2.1.2. Về phía học sinh

1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng sử dụng thí nghiệm trong giảng dạy môn Hóa học

1.3. Một số vấn đề cơ bản của tư duy

1.3.1. Khái niệm

1.3.2. Đặc điểm cơ bản của tư duy

1.3.3. Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ

1.3.4. Phân loại tư duy

1.3.5. Năng lực tư duy

1.3.5.1. Năng lực tư duy sáng tạo

1.4. Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.4.1. Khái niệm

1.4.2. Bản chất của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

2. CHƯƠNG II: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC VÔ CƠ CHỦ ĐỀ “SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI” HOÁ HỌC 12 THPT THEO PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

3. CHƯƠNG III: HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN THÔNG QUA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Thiết kế thí nghiệm hóa học về ăn mòn kim loại lớp 12

Phần này tập trung vào thiết kế thí nghiệm hóa học liên quan đến ăn mòn kim loại trong chương trình hóa học lớp 12. Nội dung sẽ trình bày chi tiết các bước thiết kế, bao gồm lựa chọn kim loại, dung dịch điện phân, điều kiện thực nghiệm (nhiệt độ, thời gian phản ứng). Phương pháp nghiên cứu khoa học lớp 12 được áp dụng để đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy của thí nghiệm. Cần chú trọng đến việc lựa chọn các kim loại phổ biến, dễ tìm kiếm và an toàn cho học sinh. Mô tả quá trình ăn mòn kim loại cần rõ ràng, dễ hiểu, kết hợp với hình ảnh minh họa. Các yếu tố ảnh hưởng đến ăn mòn kim loại như nồng độ dung dịch, nhiệt độ, bề mặt kim loại sẽ được xem xét và thiết kế thí nghiệm để kiểm chứng. Thiết kế thí nghiệm cần đảm bảo tính sáng tạo trong dạy học hóa học, khuyến khích học sinh tự mình thiết kế và thực hiện thí nghiệm. Bài tập thí nghiệm ăn mòn kim loại được thiết kế để học sinh có thể vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

1.1. Lựa chọn kim loại và dung dịch

Việc lựa chọn kim loạidung dịch phù hợp là rất quan trọng. Nên chọn các kim loại phổ biến, dễ tìm và an toàn trong quá trình thực nghiệm như sắt, đồng, kẽm. Dung dịch điện phân cũng cần được lựa chọn cẩn thận, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cho thí nghiệm. Ví dụ, có thể sử dụng dung dịch muối, axit loãng. Phản ứng hóa học ăn mòn kim loại cần được mô tả rõ ràng, bao gồm cả phương trình phản ứng. Mô hình ăn mòn kim loại có thể được sử dụng để minh họa quá trình. Cần phân tích quá trình ăn mòn kim loại, để học sinh hiểu rõ cơ chế của hiện tượng. Ứng dụng ăn mòn kim loại trong thực tiễn cũng được đề cập, giúp học sinh liên hệ kiến thức với cuộc sống. Giáo án hóa học 12 ăn mòn kim loại cần được thiết kế để hướng dẫn học sinh thực hiện thí nghiệm một cách an toàn và hiệu quả. Dạy học hóa học tích hợp kiến thức thực tiễn sẽ giúp học sinh hứng thú hơn.

1.2. Thiết kế thí nghiệm và thu thập dữ liệu

Thiết kế thí nghiệm cần đảm bảo tính khoa học, hệ thống và dễ thực hiện. Các yếu tố như thời gian, nhiệt độ, nồng độ dung dịch cần được kiểm soát chặt chẽ. Phương pháp dạy học hiện đại hóa học cần được vận dụng để giúp học sinh chủ động trong quá trình thực nghiệm. Dạy học hóa học trải nghiệm giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách trực quan và sinh động. Việc thu thập dữ liệu cần được thực hiện chính xác, đầy đủ. Dữ liệu thu thập được cần được xử lý và phân tích để rút ra kết luận. Kỹ năng giải quyết vấn đề hóa học của học sinh được rèn luyện thông qua việc phân tích kết quả thí nghiệm. Thí nghiệm ăn mòn điện hóa có thể được thiết kế để làm rõ cơ chế ăn mòn. Ngăn ngừa ăn mòn kim loại cũng là một nội dung quan trọng cần được đề cập trong thí nghiệm. Giáo dục khoa học nhấn mạnh việc rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh.

II. Phát triển tư duy sáng tạo thông qua thí nghiệm

Phần này tập trung vào việc sử dụng thí nghiệm ăn mòn kim loại như một công cụ để phát triển tư duy sáng tạo của học sinh. Sáng tạo trong dạy học hóa học được thúc đẩy thông qua việc khuyến khích học sinh tự đặt câu hỏi, đưa ra giả thuyết và thiết kế thí nghiệm để kiểm chứng. Tư duy phản biện hóa học được rèn luyện thông qua việc phân tích kết quả và rút ra kết luận. Đánh giá năng lực học sinh hóa học cần tập trung vào quá trình tư duy và giải quyết vấn đề của học sinh hơn là kết quả cuối cùng. Bài giảng điện tử hóa học 12 có thể được sử dụng để hỗ trợ việc giảng dạy và học tập. Học liệu hóa học 12 cần được cập nhật và đa dạng để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Giáo dục cần tập trung vào việc phát triển năng lực tư duy của học sinh.

2.1. Kỹ năng thiết kế thí nghiệm

Đây là phần quan trọng nhất. Kỹ năng thiết kế thí nghiệm cần được dạy cho học sinh một cách bài bản. Học sinh cần được hướng dẫn cách đặt câu hỏi nghiên cứu, lập kế hoạch thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ và hóa chất, thực hiện thí nghiệm, xử lý dữ liệu và rút ra kết luận. Phương pháp dạy học tích cực cần được áp dụng để khuyến khích học sinh chủ động tham gia vào quá trình thiết kế và thực hiện thí nghiệm. Kỹ năng giải quyết vấn đề là một kỹ năng quan trọng cần được rèn luyện thông qua việc thiết kế và thực hiện thí nghiệm. Thí nghiệm không chỉ giúp học sinh hiểu rõ kiến thức lý thuyết mà còn giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành và tư duy khoa học. Giáo dục cần hướng đến việc phát triển toàn diện năng lực học sinh. Ăn mòn điện hóa là một chủ đề phức tạp cần được giải thích rõ ràng và dễ hiểu cho học sinh.

2.2. Đánh giá và phân tích kết quả

Sau khi hoàn thành thí nghiệm, học sinh cần được hướng dẫn cách đánh giá và phân tích kết quả. Học sinh cần học cách so sánh kết quả thực nghiệm với giả thuyết ban đầu, giải thích những sai lệch nếu có, và rút ra những bài học kinh nghiệm. Tư duy phản biện là một kỹ năng quan trọng cần được rèn luyện trong quá trình đánh giá và phân tích kết quả. Việc phân tích dữ liệu cần được thực hiện một cách khoa học và chính xác. Báo cáo thí nghiệm cần được viết một cách rõ ràng, mạch lạc và đầy đủ thông tin. Hóa học lớp 12 đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề. Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn học sinh đánh giá và phân tích kết quả thí nghiệm. Phát triển năng lực tư duy sáng tạo là mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại.

31/01/2025
Skkn thiết kế và sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề trong dạy học chủ đề sự ăn mòn kim loại hoá học 12 nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh thpt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề + Bước 2: Phát biểu vấn đề + Bước 3: Xác định hướng giải quyết, đề xuất giả thuyết + Bước 4: Lập kế hoạch theo giả thuyết + Bước 5: Thực hiện kế hoạch giải + Bước 6: Đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải + Bước 7: Kết luận về lời giải. Giáo viên chỉnh lý, bổ sung và chỉ ra kiến thức cần lĩnh hội + Bước 8: Kiểm tra lại và ứng dụng kiến thức vừa thu được 1. Thí nghiệm hóa học trong dạy học ở trường THPT 1. Vai trò của thí nghiệm hóa học trong dạy học 1.

Thí nghiệm là phương tiện trực quan 10 skkn Thí nghiệm là nền tảng của việc dạy học môn Hóa học. Thí nghiệm là phương tiện trực quan chính yếu, được dùng phổ biến và giữ vai trò quyết định trong quá trình dạy học Hóa học. Nó giúp học sinh chuyển từ tư duy trừu tượng sang tư duy cụ thể và ngược lại. Khi quan sát được tính chất vật lý, học sinh bắt đầu có khái niệm về chất đang học, cuối cùng thông qua các thí nghiệm trong bài học sinh sẽ khắc sâu kiến thức được tính chất hóa học của chất.

Một bài học nếu không sử dụng thí nghiệm thì giáo viên sẽ phải tốn nhiều thời gian để giảng giải cho học sinh về tính chất của chất nhưng chắc chắn sẽ không rõ và hết ý vì mọi thứ đều không thể diễn đạt trọn vẹn bằng lời. Lời nói thì trừu tượng còn các thí nghiệm thì cụ thể. Do vậy chỉ cần quan sát thí nghiệm và giáo viên nhấn mạnh những điều cần rút ra trong thí nghiệm vừa thực hiện hoặc vừa xem qua video clip, thì học sinh sẽ học tập môn hóa một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó hay áp lực nặng nề. Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn Đối với bộ môn Hóa học, thực hành thí nghiệm sẽ giúp học sinh làm sáng tỏ những vấn đề lý thuyết đã đưa ra: “ Học đi đôi với hành” – với ý nghĩa đó thực hành thí nghiệm giúp học sinh ôn tập và kiểm tra lại các vấn đề lý thuyết đã học, trên cơ sở đó hiểu sâu sắc và nắm vững những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa.

Nhiều thí nghiệm rất gần gũi với đời sống, các quy trình công nghệ. Chính vì vậy thí nghiệm giúp học sinh vận dụng các điều đã học vào thực tế đời sống. Học là để phục vụ cuộc sống, ứng dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, do đó quá trình dạy học phải gắn liền với thực tế đời sống. Từ đó học sinh phát huy được tính tích cực, sáng tạo và vận dụng kiến thức nhạy bén trong những trường hợp khác nhau.

Rèn luyện kĩ năng thực hành Trong tất cả các thí nghiệm khoa học, đặc biệt là thí nghiệm về hóa học, nếu không cẩn thận nắm vững qui trình và đặc tính của các chất sẽ gây ra nguy hiểm. Do vậy khi thực hành thí nghiệm học sinh phải làm đúng các thao tác cần thiết, sử dụng lượng hóa chất thích hợp nên học sinh vừa tăng cường độ khéo léo và kỹ năng thao tác, vừa phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề. Phát triển tư duy Thí nghiệm giúp học sinh phát triển tư duy, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng. Khi tự tay làm các thí nghiệm hoặc tận mắt nhìn thấy các hiện tượng hóa học xảy ra, học sinh sẽ tin tưởng vào kiến thức đã học và cũng thêm tin tưởng vào chính bản thân mình.

Nếu như chưa quan sát được hiện tượng, các em sẽ hoài nghi về những hiện tượng tự mình nghĩ thầm trong đầu và đặt câu hỏi: “ Không biết mình nghĩ như vậy đã chính xác chưa?” Học sinh sẽ không tin tưởng vào chính mình - đó là một trở ngại tâm lý lớn trong học tập và lĩnh hội tri thức mới. Gây hứng thú cho học sinh Giáo viên sử dụng thí nghiệm trong tiết học sẽ gây hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập. Nếu học sinh quan sát được những thí nghiệm hấp dẫn, các em sẽ muốn khám phá những thí nghiệm và tính chất hóa học của các chất. Để giải thích được các câu hỏi: Làm thế nào để tự mình thực hiện được các thí nghiệm hấp dẫn? Tại sao các chất phản ứng với nhau lại tạo ra được các hiện tượng như vậy? Mình có thể 11 skkn sử dụng chất khác mà vẫn tạo ra được hiện tượng như trên không? Từ đó học sinh sẽ tự mình đi tìm hiểu vấn đề chứ không phải đợi thầy cô nhắc nhở.

Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học Hóa học 1.1 Giải pháp cũ thường dùng Trong dạy học hóa học cần có sự liên hệ mật thiết giữa nội dung kiến thức hóa học với thế giới tự nhiên và cuộc sống đời thường của con người. Trong một giờ học hóa thông thường giáo viên thường sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống như: Phương pháp thuyết trình (thông báo - tái hiện), phương pháp đàm thoại (hỏi - đáp), phương pháp nghiên cứu. Có không ít giáo viên dạy học theo lối diễn giảng đơn điệu, không đổi mới, không chú ý đến người học và đặc biệt việc sử dụng thí nghiệm trong giờ học rất hạn chế, nếu có thì cũng chỉ là thí nghiệm kiểm chứng một vài tính chất nào đó như: Dùng chỉ thị màu để phân biệt tính axit- bazơ của các chất, hay kim loại tác dụng với dung dịch axit,.Trong giờ học chủ yếu học sinh chỉ ngồi nghe giảng, chấp nhận kiến thức một cách miễn cưỡng mà không được kiểm chứng thực tiễn. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều giáo viên cho rằng cứ sử dụng thí nghiệm theo hướng nghiên cứu là tích cực nhất và thường sử dụng thí nghiệm theo cách là giáo viên tiến hành thí nghiệm, yêu cầu học sinh quan sát, nêu hiện tượng sau đó yêu cầu giải thích.

Quan niệm và tiến trình dạy học như vậy chưa thực sự hiệu quả và không phù hợp với mọi thí nghiệm. Phương pháp nghiên cứu là một phương pháp tích cực nhưng chỉ nên sử dụng với các kiến thức mới, khi học sinh không có khả năng suy luận chắc chắn theo các lí thuyết chung đã học; những trường hợp học sinh có thể vận dụng những kiến thức đã có để dự đoán thì nên dùng thí nghiệm để kiểm chứng sẽ có tác dụng củng cố, đồng thời dạy cho học sinh phương pháp suy diễn. Một số ví dụ điển hình như: + Khi học về tính axit – bazơ của các chất, để biết được dung dịch NH 3 có tính bazo thì học sinh hoặc là được thông báo về tính chất của nó hoặc là nhìn hình vẽ trong sách giáo khoa để lý giải lại kiến thức vừa được học. Như vậy không phát huy được năng lực của học sinh và không gây hứng thú học tập.

Muốn học một cách tích cực thì học sinh phải được kiểm chứng cụ thể bằng thí nghiệm và qua đó giải thích được vì sao trong phân tử không có nhóm OH nhưng nó lại là một bazo. + Chứng minh tính lưỡng tính của Al(OH) 3 học sinh chấp nhận Al(OH) 3 tan được trong kiềm nhưng cũng không được kiểm chứng. + Khi giảng về cách nhận biết glixerol. Giáo viên giảng khi cho Cu(OH) 2 vào dung dịch glixerol tạo thành phức có màu xanh đặc trưng (xanh thẫm) do sự tạo thành phức đồng (II) glixerat.

Nhưng học sinh không hình dung được màu xanh thẫm đó là màu như thế nào? Nó có khác gì so với màu xanh của ion Cu 2+ trong dung dịch? Nếu giáo viên chỉ cần cho học sinh quan sát được thí nghiệm trên thì ngay lập tức học sinh thấy được màu xanh thẫm, học sinh sẽ ghi nhớ lại và khi gặp vấn đề tương tự học sinh sẽ nhớ ngay đến kiến thức cũ. Nếu học sinh tiếp thu kiến thức thiếu chính xác và thiếu vững chắc thì các em sẽ rất mơ hồ về các phản ứng và các hiện tượng kèm theo của mỗi phản ứng đó. Mỗi học sinh có một khả năng tưởng tượng khác nhau, do đó nếu 12 skkn giáo viên mô tả hiện tượng bằng lời, mỗi học sinh sẽ hình dung một cách khác nhau và có thể khác xa so với thực tế. Các em sẽ khó hiểu bài vì không có những biểu tượng rõ ràng, cụ thể về các chất, các hiện tượng hóa học.

Học sinh sẽ nhanh quên khi không hiểu bài, không có ấn tượng sâu sắc bằng các hình ảnh cụ thể. Hình ảnh cụ thể thường dễ nhớ hơn so với ngôn ngữ trừu tượng, đặc biệt là đối với học sinh trung học. Mặt khác, trong các giờ thực hành giáo viên thường áp dụng các hình thức tổ chức một giờ thực hành Hóa học theo phương pháp: Nghiên cứu nội dung thí nghiệm trong sách giáo khoa để trả lời câu hỏi; quan sát hình ảnh, tranh vẽ, mô hình, sơ đồ.; quan sát thí nghiệm do giáo viên biểu diễn. học sinh chỉ giống như “ khán giả”.

Đa số các em ít khi được tự mình làm thí nghiệm, mà đặc biệt là những thí nghiệm để phát hiện ra cái mới gây hứng thú học tập, phát triển trí tò mò, phát huy năng lực nội tại của bản thân thì hầu như không có. Do điều kiện cụ thể của các trường phổ thông nên giờ thực hành chỉ được tiến hành một cách hình thức và chỉ làm được một số thí nghiệm đơn giản, kết quả thu được chỉ là một tờ giấy tường trình sơ sài. Như vậy hiệu quả của thí nghiệm chưa được phát huy tối đa trong dạy học. Do đó dẫn đến việc học sinh ngại học, sợ học vì có quá nhiều kiến thức lý thuyết cần phải nhớ trong khi đó các em còn phải học rất nhiều môn học khác nữa dẫn đến việc học sinh không có hứng thú với môn học, học để đối phó trong các kì thi và kiểm tra.

Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên chính là phương pháp dạy học của giáo viên chưa phù hợp với đặc thù của môn học, sử dụng thí nghiệm chỉ để phụ họa cho một số tính chất của các chất mà chưa xây dựng kế hoạch, mục tiêu, định hướng cụ thể cũng chưa xác định đúng quy trình sử dụng thí nghiệm có hiệu quả. Sau đây là bảng phân tích những ưu, nhược điểm của các phương pháp dạy học theo quan niệm cũ: Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm - Truyền đạt được lượng - Học sinh tương đối thụ động, Thuyết trình thông tin lớn. nhanh quên kiến thức đã học (thông báo - - Ít tốn thời gian. - Khó áp dụng vì kiến thức lĩnh tái hiện) - Hiệu quả kinh tế cao.

hội trừu tượng. - Học sinh làm việc tích cực, - Tốn thời gian. Đàm thoại độc lập, tiếp thu bài tốt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thiết kế thí nghiệm về sự ăn mòn kim loại trong dạy học hóa học 12 để phát triển tư duy sáng tạo" trình bày một phương pháp dạy học mới nhằm nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của học sinh thông qua việc thiết kế thí nghiệm về sự ăn mòn kim loại. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng thực tiễn vào giảng dạy hóa học, giúp học sinh không chỉ hiểu rõ lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng thực hành và tư duy phản biện. Bài viết cung cấp những hướng dẫn cụ thể về cách tổ chức thí nghiệm, từ đó khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học sáng tạo, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ dạy học viết sáng tạo cho học sinh tiểu học, nơi bạn sẽ tìm thấy những cách tiếp cận mới trong giảng dạy. Ngoài ra, bài viết Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan lớp 6 theo hướng phát triển năng lực tư duy lập luận toán học cũng sẽ cung cấp cho bạn những ý tưởng thú vị về việc phát triển tư duy toán học cho học sinh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcs, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về việc phát triển tư duy cho học sinh ở cấp trung học cơ sở. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn nâng cao phương pháp giảng dạy của mình.