Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên BD cho GV từ trước đến nay luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem trọng mở mang dân trí, chăm lo sự nghiệp GD của nước nhà; đánh giá cao vai trò của GD đối với sự hưng thịnh của đất nước, với nhiệm vụ trọng đại là nâng cao dân đức, mở mang dân trí, đào tạo nhân lực và BD nhân tài; làm được như vậy sẽ tạo động lực cho sự phát triển, đưa nước nhà tiến tới giàu mạnh, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Để đạt mục tiêu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sứ mệnh của người thầy giáo, Người đã khẳng định: “ Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục.” Ngoài ra, để làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, Người cũng nhắc nhở: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Vấn đề phát triển GD và nâng cao chất lượng đội ngũ GV cũng được đề cập trong bức thư cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho ngành GD ngày 15/10/1968, Người nhắc lại các thầy cô giáo, công nhân viên phục vụ trong ngành GD và các em HS, sinh viên với ba điểm sau: Thứ nhất, thầy và trò phải luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho, luôn luôn cố gắng cho xứng đáng với đồng bào miền Nam anh hùng; Thứ hai, dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt và học tốt, trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm 8 thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật; Thứ ba, các cô các chú, các em phải cùng nhau tổ chức và quản lý đời sống vật chất, tinh thần ở các trường học ngày một tốt hơn, tăng cường bảo đảm sức khỏe và an toàn. Trong thư, Người khẳng định: “Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang.” (Sơn Tùng, 2009) Thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thời gian qua, Đảng và Nhà nước không ngừng chỉ đạo và đưa ra nhiều giải pháp trong việc xây dựng, phát triển đội ngũ GV, trong đó việc BD trình độ lý luận , năng lực chuyên môn, nghiệp vụ chiếm phần quan trọng nhất. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 về việc Xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và đội ngũ CBQL GD; Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 đã tạo động lực việc xây dựng, phát triển đội ngũ GV trong giai đoạn hội nhập GD khu vực.
Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho công dân được học tập suốt đời.
Điều đó cho thấy tính cấp thiết của GD&ĐT hiện nay. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã 9 ban hành Nghị quyết số 29- NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT.” nhằm góp phần tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng, hiệu quả GD&ĐT và đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Để phát triển toàn diện, đội ngũ GV là lực lượng trực tiếp thực hiện chương trình GD của các cấp học và quyết định chất lượng GD tại các cơ sở GD và trình độ ở địa phương. Do đó, phát triển đội ngũ GV vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển các cơ sở GD, cụ thể là trường học.
BD cho GV có tầm quan trọng chiến lược, có tính chất quyết định chất lượng GD và dạy học trong trường học, bởi lẽ lao động sư phạm là lao động sáng tạo, đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu rộng và toàn diện, luôn phải hoàn thiện và bổ sung cập nhật cái mới, ngoài ra, tính đa dạng và phức tạp của hoạt động GD đòi hỏi CBQL GD phải chú trọng việc BD cho GV nhằm nâng cao trình độ lý luận, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới chương trình GD phổ thông, thực hiện quy định chuẩn nghề nghiệp GV theo hướng tiếp cận thế giới, do đó, vấn đề nâng cao trình độ lý luận, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho GV càng trở nên cấp bách. Để đáp ứng yêu cầu trên, ngành GD&ĐT luôn có chủ trương để đào tạo và BD cho GV theo nhiều hình thức khác nhau như: đào tạo chính quy, tại chức, ngắn hạn, cấp tốc, học theo chuyên đề theo các hệ khác nhau. Điều đó dẫn đến hệ quả là trình độ của đội ngũ GV không đồng đều, chưa đáp ứng kịp với sự phát triển chung của GD nước nhà.2 Nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Thực tiễn để khắc phục tình trạng trên, trong những năm qua, ngành GD đã và đang tập trung đẩy mạnh BD trình độ lý luận, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho GV ở các trường, đặt biệt là hoạt động BDTX cho GV được thực hiện hết sức linh hoạt, đa dạng và phong phú, nhằm tiếp tục đào tạo, đào tạo nâng chuẩn, cập nhật kiến thức, kỹ năng sư phạm cho GV phục vụ nhu cầu đổi mới chương trình phổ thông, tiếp cận phát triển GD của khu vực.
Thời 10 gian qua, một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD đã nghiên cứu về vấn đề QL hoạt động BDTX cho GV với nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể kể đến một số ít bài viết như: Tác giả Ngô Anh Hải với luận văn “Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên các trường trung học phổ thông tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” đề xuất một số biện pháp BDTX cho GV các trường trung học phổ thông nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đáp ứng nhu cầu đổi mới GD ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (Ngô Anh Hải, 2012). Tác giả Nguyễn Mạnh Cường với luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La” đề xuất một số biện pháp QL của Phòng GD&ĐT huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La đối với hoạt động BDTX cho GV trung học cơ sở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV trung học cơ sở trên địa bàn huyện (Nguyễn Mạnh Cường, 2015). Tác giả Vũ Thị Thanh với luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học cơ sở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang” đề xuất một số biện pháp QL phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động BDTX cho GV trung học cơ sở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (Vũ Thị Thanh, 2017). Tác giả Nguyễn Văn Tiếp với luận văn: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động BDTX cho GV các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD các trường trung học cơ sở hiện nay (Nguyễn Văn Tiếp, 2019).
11 Các luận văn kể trên đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả QL hoạt động BDTX cho GV ở trường tiểu học. Trong thời gian qua, Sở GD&ĐT tỉnh Yên Bái đã cụ thể hóa các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, triển khai thực hiện trong toàn ngành GD. Công tác đào tạo, BD CBQL GD, đội ngũ GV cũng được quan tâm và đầu tư. Nhiều CBQL GD và GV được cử đi tập huấn, đào tạo để nâng cao trình độ lý luận, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ nhằm phục vụ cho việc tổ chức hoạt động BDTX cho GV trong địa bàn.
Tuy nhiên, tại trên địa bàn tỉnh về khối tiểu học lại chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này. Như vậy, nghiên cứu về quản lý hoạt động BDTX cho GVTH là vấn đề cần được quan tâm và nghiên cứu một cách hệ thống. Các khái niệm liên quan quản lý bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trường tiểu học 1. Quản lý - Paul Hersey và Ken Blane Hard: “Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức” [33].
- Theo sự phân tích của C.Mác thì “Bất cứ nơi nào lao động, nơi đó có quản lý” [28]. Trong tác phẩm: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” tác giả HaroldKontz viết “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm về thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [27]. - Khái quát hơn các tác giả ở khoa Sư phạm - ĐHQGHN là Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [11, tr.