CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ DẠY HỌC HAI BUỔI/NGÀY Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động dạy học và dạy học hai buổi/ ngày ở trường tiểu học 1. Nghiên cứu ở ngoài nước Dạy học hay giáo dục chính là truyền đạt tri thức, mục đích của truyền đạt tri thức chính là để phát triển con người, xã hội.
Không có giáo dục, không thể hình thành con người, không thể hình thành một xã hội có sự phát triển. Giáo dục bởi thế là đề tài luôn được ưu tiên và lựa chọn nghiên cứu, luận bàn của các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới từ cổ chí kim. Đối với nhà giáo dục Khổng Tử thì nhân - cá nhân, con người là nền tảng, gốc rễ của mọi hoạt động của đời sống xã hội. Mục tiêu giáo dục của Khổng Tử là đào tạo, bồi dưỡng người “Nhân”, “Quân Tử” để làm quan, điều hòa mâu thuẫn giai cấp, “khôi phục lễ nghĩa” để cải thiện xã hội đầy rối ren thời kỳ bấy giờ.
Xét về mặt chính trị về cơ bản tư tưởng của Khổng Tử có vẻ có vẻ bảo thủ, nhưng về giáo dục thì mang tính tiến bộ và vượt thời đại. Vì vậy, cũng luôn duy trì quan niệm giáo dục nâng cao đạo đức cá nhân, đồng thời phát triển xã hội. Thái độ coi trọng coi người của Khổng Tử đã thể hiện tầm tư tưởng của ông thật lớn lao ai cũng có thể dạy hay nói cách khác, ai cũng có quyền được học tập, được dạy dỗ để trở thành người có đạo đức, để trở thành hạt giống của xã hội. Nhà nho giáo trí thức cổ không phân biệt hèn sang, khẳng định nhiệm vụ giáo dục con người là nhiệm vụ cần được phổ cập, 10 phổ biến và cần được tập trung để xây dựng nền tảng con người, để mỗi con người trong xã hội đều có đạo đức, có nhân cách.
Như thế xã hội mới phát triển và phát triển một cách bền vững. Khổng Tử không chỉ quan tâm đến việc nuôi dân, dưỡng dân mà còn quan tâm đến việc giáo hóa dân. Nuôi dân, dưỡng dân là chăm lo về đời sống vật chất, giáo dân là lo cho dân về đời sống tinh thần. Với quan điểm này, giáo dục góp phần làm nên bản chất xã hội của con người.
Với mục đích giáo dục này, Khổng Tử đã thể hiện tư tưởng vượt thời đại: một xã hội muốn phát triển vững mạnh phải có con người đủ đức, đủ tài. Bởi vì người làm quan có giáo dục sẽ hiểu được chức phận của mình không làm điều hại dân, người dân có giáo dục sẽ hiểu được nghĩa vụ và quyền lợi của mình để thực hiện.Ăngghen có những suy nghĩ sâu sắc tới vấn đề GD&ĐT, khẳng định vai trò đặc biệt của GD&ĐT đối với phát triển KT-XH, chính trị và cốt lõi nhất, quan trọng nhất là phát triển và hoàn thiện nhân cách của con người.Ăngghen cho rằng: Bản thân xã hội tạo ra con người với tính cách như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế ấy. Tư tưởng này mang một tầm vĩ đại bởi ông đã đưa ra được mối quan hệ tương hỗ, nhưng khăng khít và biện chứng giữa xã hội và con người. Con người sống dưới sự tác động của xã hội, cụ thể đó chính là sự tác động của giáo dục.
Và giáo dục hình thành, đào tạo con người ấy như thế nào thì xã hội sẽ được xây dựng từ nền tảng như thế [13]. Cuối thế kỷ XIV khi CNTB xuất hiện thì có sự thay đổi về KHKT, lúc này còn người cần có sự hiểu biết về kỹ thuật và vấn đề dạy học và quản lý dạy học đã được các nhà giáo dục quan tâm tới nhiều hơn, điển hành là J. A Comenxki (1652-1670) - một nhà giáo dục tiêu biểu của cộng hoà Slôvakia nói riêng và thế giới nói chung. Comenxki đặc biệt đề cao vị trí của người thầy giáo trong việc dạy dỗ, hình thành đạo đức, tính cách một con người.
11 Ông nói rằng “Dưới ánh sáng mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”, ông đặt ra cho thầy giáo những yêu cầu cao về lòng nhân ái, về phẩm chất đạo đức để làm gương sáng cho HS. Người thầy phải đối xử với HS công bằng, ân cần, hoà nhã.Comenxki còn khẳng định: “Tất cả các bậc cha mẹ, giáo viên, nhà trường, chính xác bản thân các môn học, phương pháp dạy học và BLĐ nhà trường phải làm thức tỉnh khát khao học tập của HS. Comenxki “đã khái quát kinh nghiệm dạy học của loài người và nâng lên đỉnh cao bằng cách đưa ra một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo công tác dạy học, đó là những nguyên tắc như: Dạy học phát huy tính tích cực của HS, dạy học vừa sức, đảm bảo tính trực quan, đảm bảo độ vững bền của tri thức, dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, liên tục… Cho đến nay, nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị lý luận của nó” [ Dẫn theo 19]. Tư tưởng chung và xuyên suốt quan điểm của các nhà tư tưởng, chính trị, nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới chính là giáo dục, chính là động lực cho sự phát triển KT-XH, nguồn lực con người chính là tài sản quyết định cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Năm 1994, UNESCO đưa ra tuyên bố: “Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó”. Năm 1996, khi UNESCO đưa ra 3 nội dung cho Triết lý giáo dục thế kỷ XXI, trong đó điều đầu tiên là “Phải coi giáo dục là giải pháp hàng đầu để giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội của một quốc gia cũng như của mỗi cá nhân” 1. Nghiên cứu trong nước Đối với GDVN thì “hệ thống tư tưởng HCM về giáo dục” có một ý nghĩa và giá trị cao về mawth lý luận dạy học và giáo dục trong nền GDCM của VN. Chủ tịch HCM còn từng viết: “Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Phần nhiều là phần lớn, nghĩa là chỉ có giáo dục mới đóng vai trò cốt lõi cho 12 tất cả mọi mặt của con người, của đời sống, của sự phát triển xã hội. Mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch HCM là giáo dục con người. Tư tưởng đó xuyên suốt toàn bộ những bài viết, những cuộc nói chuyện của Người trong những chuyến đi thăm các trường lúc sinh thời. Chủ tịch HCM luôn luôn hiện thân như là một người thầy mẫu mực, kiên trì, cần mẫn vun đắp cho sự nghiệp “trồng người”; qua đó đã đào tạo nên thế hệ cán bộ-chiến sĩ trung thành, sáng suốt, và họ đã cùng Người đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành một dân tộc tự do, độc lập.
Trên ý nghĩa đó, HCM không chỉ là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất mà còn là một Nhà giáo dục lớn của dân tộc. HCM thường không nói những lời to tát mà nói rất giản dị nhưng vô cùng sâu sắc, thấm thía như: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Non sông VN có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc VN có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em, Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta,… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước VN độc lập, Dốt nát cũng là kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm…, Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang… Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế-văn hóa. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu.
Tuy không có gì đột xuất, nhưng rất vẻ vang. Không có tượng đồng bia đá, không có gì là oanh liệt, nhưng làm tròn nhiệm vụ là anh hùng…, Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người, v. Với sự hòa quyện tổng thể của các tri thức QLGD, kinh tế học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học.và trên CSLL của CN Mác - Lê nin, kết hợp tư tưởng HCM, hiện nay các nhà khoa học VN mổ xẻ các vấn đề về: Khái niệm quản lý, QLGD, quản lý dạy và học, quản lý trường học, phương pháp dạy học, đi kèm với những nguyên tắc, phương pháp quản lý khác nhau…Và thực 13 tiễn hiện nay có rất nhiều bài nghiên cứu, bài giảng, giáo trình về QLGD, về quản lý, về hoạt động dạy và học của các tác giả, điển hình như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Lân, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Quốc Chí… Với những công trình nghiên cứu này đã góp phần làm phong phú và đang dạng thêm lý luận và thực tiễn về quản lý dạy và học. Nền giáo dục hiện đại của VN còn chứng kiến sự xuất hiện của nhiều nhà giáo dục với những công trình nghiên cứu, giáo trình, xã luận về tổ chức quản lý quá trình giáo dục như: Nguyễn Kế Hào, Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Bá Lâm, Nguyễn Giá Quý, Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền.
đã thể hiện được bản chất của hoạt động quản lý, QLGD, những định hướng phát triển giáo dục -VN đương đại. Ở VN, từ thời kỳ đất nước còn nghèo đói, nô lệ, tinh thần học tập của người dân VN vẫn luôn cao độ. Người dân VN chỉ cần có người đứng lên dạy học là ắt có những HS chăm chỉ, vượt mọi khó khăn để học tập. Và tinh thần học tập càng được nung nấu, phát triển khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ xây dựng đất nước XHCN theo đường lối của chủ tịch HCM.
Xuyên suốt tư tưởng, đường lối XHCN, giáo dục được coi là nền tảng cho sự phát triển của KHKT và đem lại sự thịnh vượng cho đất nước. Để tạo ra một nguồn lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới đang đặt ra ngày càng cấp thiết thì giáo dục đào tạo phải có giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện, phát triển NNL. Chính vì thế công tác QLNT nói chung và QLHĐ dạy học 2 buổi/ngày ở các trường TH hiện nay được đánh giá là rất quan trọng trong việc giáo dục toàn diện con người VN. Với quá trình hình thành & phát triển về khoa học QLGD tại VN phải kể đến quan điểm về giáo dục của Chủ tịch HCM năm 1890 – 1969.