CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “trải nghiệm” Trải nghiệm là thuật ngữ thường hay được sử dụng trong cuộc sống của con người. Theo từ điển Oxford, “Trải nghiệm được dùng với nghĩa bao gồm những kiến thức, những kĩ năng có được thông qua hoạt động tiếp xúc trực tiếp”.
Trong Từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê định nghĩa: Trải nghiệm được hiểu đơn giản nhất là những gì con người từng kinh qua thực tế, từng biết, từng chịu. Trải nghiệm mang lại cho con người kinh nghiệm phong phú bởi khi trải nghiệm, ta đã trải qua con đường “thử” và “sai”. Người trải nghiệm nhiều sẽ có nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống cho bản thân, giúp con người hình thành năng lực, phẩm chất sống. Trải nghiệm có nhiều dạng khác nhau, tùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau như phạm vi diễn ra hoạt động, đặc điểm của hoạt động hay nội dung giáo dục thông qua hoạt động.
Học tập thông qua trải nghiệm là học tập thông qua sự phản ánh về việc làm, thường tương phản với học vẹt, giáo khoa. Học tập trải nghiệm có liên quan nhưng không đồng nhất với giáo dục thực nghiệm, học tập hành động, học tập khám phá hay học tập dịch vụ. Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học, không nhất thiết phải là hoạt động quy mô lớn, ở ngoài trời,. mới được gọi là trải nghiệm.
Khi học sinh trực tiếp tham gia vào các hoạt động trên lớp học, được tương tác với con người, sự vật, được làm những cái mới mẻ mà trước đó chưa từng làm, chưa từng nói, qua đó lấy được kinh nghiệm cho bản thân cũng là trải nghiệm. Thêm vào đó, không phải khi học sinh hoạt động chân tay, chạy nhảy,… mới gọi là trải nghiệm. Việc các em tư duy, động não về những cái chưa biết, cái mới cũng được cho là trải nghiệm. Xuất phát từ những khái niệm trên, trong luận văn này, chúng tôi hiểu trải nghiệm như sau: “Trải nghiệm là quá trình mà người trải nghiệm tham gia trực 8 tiếp vào các hoạt động, tích cực tương tác với đối tượng trải nghiệm, được cảm nhận và rút ra được những kiến thức, kĩ năng hình thành thái độ về sự vật – hiện tượng nhất định, tạo nên kinh nghiệm sống cho bản thân người trải nghiệm.
Khái niệm “hoạt động trải nghiệm” Tại Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ban hành kèm theo thông tư 32/2018 của Bộ GD&ĐT, khái niệm “Hoạt động trải nghiệm” đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra như sau: “Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho HS tiếp cận thực tiễn, thể hiện cảm xúc, hành vi tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và tổng hợp kiến thức, kĩ năng vốn có để thể hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những tình huống có vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống trong thời kì hội nhập, môi trường và nghề nghiệp tương lai” [9]. Hoạt động trải nghiệm là các hoạt động giáo dục được thực hiện dưới sự hướng dẫn cuẩ các nhà giáo dục, mối các nhân HS được tham giá trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của nhà trường cũng như xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, thông qua hoạt động này, các em được phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình. Trong chương trình GDPT mới thì hoạt động trải nghiệm là một trong những hoạt động bắt buộc thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12 nên 100% HS phải tham gia. Khi tham gia các hoạt động trải nghiệm này, HS được phát huy hết các kiến thức, kĩ năng của các môn học và lĩnh vực GD khác nhau để trải nghiệm thực tiễn cuộc sống, tạo cơ hội cho HS khám phá bản thân và thế giới xung quanh.
Ở bậc tiểu học, hoạt động này còm được gọi là hoạt động trải nghiệm, đối với bậc cao hơn như THCS và THPT thì hoạt động này được gọi là hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Nội dung hoạt động trải nghiệm được đưa vào chướng 9 trình GDPT 2018 nhằm gắn nội dung GD với đời sống thực tiễn, tạo ra sự thống nhất nhận thức, tư duy và hành động cho người học. Học tập thông qua hoạt động trải nghiệm còn giúp người học phát triển các năng lực và phẩm chất nhất định, cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội hiện đại, hướng tới mục tiêu mà UNESCO đã xác định: Học để biết, học để làm và học để chung sống. Khái niệm “tổ chức hoạt động trải nghiệm” Tổ chức hoạt động trải nghiệm là quá trình xây dựng kế hoạch, thiết kế nội dung, dưới sự hướng dẫn của GV, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào các hoạt động học tập, lao động, giao tiếp, vui chơi, … từ đó rút ra những nhận định của cá nhân về thế giới xung quanh, mở rộng tầm hiểu biết của bản thân, trau dồi kĩ năng sống và phẩm chất tốt.
Khái niệm “ năng lực” Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Từ điển năng lực của Đại học Harvard cho rằng, năng lực là những thứ mà một người phải chứng minh có hiệu quả trong: việc làm, vai trò, chức năng, công việc, nhiệm vụ. Còn theo từ điển tâm lý học, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.
Theo từ điền này, năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân. Đó là sự thống nhất hữu cơ đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn. Như vậy có thể hiểu năng lực là một đặc tính có thể đo lường được của một người về kiến thức, kỹ năng, thái độ. cũng như các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ.
Năng lực là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu 10 quả hơn so với những người khác, cũng là một trong những thước đo để đánh giá các cá nhân với nhau. Năng lực được chia làm 2 dạng như: Năng lực chung và năng lực đặc thù. Một số năng lực chung và năng lực đặc thù của Hoạt động trải nghiệm là: Năng lực chung: Tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực đặc thù: Năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp.
Hoạt động trải nghiệm của HS ở trường tiểu học theo hướng phát triển năng lực cho HS 1. Đặc điểm của HS Tiểu học Học sinh tiểu học là những trẻ có độ tuổi từ 6 tuổi đến 11 tuổi. Các cơ quan của trẻ ở độ tuổi này còn non nớt, dễ bị tổn thương. Vì vậy, GV trong quá trình cho HS trải nghiệm như vui chơi, thể thao,… GV phải thật sự chú ý đến hoạt động của trẻ.
Tương tự, hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nhưng các cơ kích thước còn nhỏ và đang trong quá trình hoàn thiện nên việc các em rất thích các trò chơi vận động như: chạy, nhảy, nô đùa,.có thể dễ gặp những nguy cơ bị trầy xước hoặc gãy xương do va đập nhẹ. Vì vậy mà các thầy cô nên tổ chức các hoạt động, các trò chơi vận động phù hợp với lứa tuổi để đảm bảo sự an toàn cho HS. Hệ thần kinh của HS ở giai đoạn này cũng đang dần hoàn thiện về mặt chức năng. Do vậy, các em chủ yếu tiếp nhận thông tin hướng dẫn của GV qua các hình ảnh sinh động tạo sự hứng thú của HS, đặc biệt là qua các trò chơi có tính hấp dẫn gắn với bài học.
Vì vậy, tạo trò chơi cho các em ngoài việc giúp phát triển tư duy còn tạo ra sự thích thú với môn học. Do đó, đòi hỏi GV cần nắm được những đặc điểm cơ bản và tâm lý của HS cấp tiểu học thì cần phải: Theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Tích cực khi các HĐTN phù hợp với tâm lý lứa tuổi HS thì sẽ hấp dẫn thu hút được HS tham gia và ngược lại. Đặc điểm của HS lớp 2 Ở lứa tuổi HS lớp 2 thì trí tưởng tượng của các em còn đơn giản, chưa phong phú và dễ thay đổi.
Về hoạt động, HS lớp 2 được sự quan tâm của gia đình nhưng đồng thời cũng bắt đầu được học cách tự lập cho bản thân như biết tự sắp xếp học tập, dọn nhà phụ giúp ba mẹ,… Không những thế, HS lớp 2 cũng được GV cho tham gia các hoạt động lao động để rèn luyện tính cách cho trẻ như trồng cây, trồng hoa, kế hoạch nhỏ,… Về ngôn ngữ, khi trẻ bước vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Học sinh lớp 2 có thể hiểu và thao tác các biểu tượng liên quan đến vật cụ thể. Ví dụ, HS lớp 2 biết dấu cộng có nghĩa là thêm vào và có thể sử dụng chúng khi cần thiết. Học sinh lớp 2 tư duy logic hơn.
Mặc dù vẫn có những khoảnh khắc khi chúng đi đến kết luận, bạn sẽ có thể hiểu được ngay cả những suy nghĩ kỳ quặc nhất của các em. Học sinh lớp 2 có thể biết được sự khác biệt về số lượng, chiều dài và âm lượng khi so sánh 2 vật với nhau. Ngoài ra, HS lớp 2 cũng có hiểu về chất. Ví dụ, nếu các em được giới thiệu về đất sét, sau khi xem ai đó phá vỡ nó thành từng mảnh nhỏ và đặt các mảnh lại với nhau, một HS lớp 2 sẽ biết rằng đó vẫn cùng là một lượng đất sét.
Đặc điểm nổi bật của chương trình GDPT 2018 tại trường Tiểu học Bắt đầu từ năm học 2020 – 2021 sẽ bắt đầu áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới.