CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề cơ bản về năng lực 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhờ vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn: Năng lực là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc đựợc hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống.
Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau do sự lựa chọn dấu hiệu khác nhau. Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí. Còn theo Howard Gardner (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”. Cùng chung quan điểm, F.
Theo từ điển giáo khoa tiếng Việt: “Năng lực là khả năng làm tốt công việc” [18]. Như vậy có thể hiểu: Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố như: phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Hay Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và 10 vận dụng chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống [9].
Vậy bản chất của năng lực là khả năng huy động tổng hợp những kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…để thực hiện thành công một công việc trong bối cảnh nhất định. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung kĩ thuật trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc. Cấu trúc năng lực Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau.
Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, Năng lực phương pháp, Năng lực xã hội, Năng lực cá thể [17]. Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân.
Nó được tiếp 11 nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và liên quan đến hành động tự chịu trách nhiệm. Các năng lực toán học cần hình thành cho học sinh tiểu học. Theo chương trình giáo dục phổ thông mới [2], dạy học môn Toán ở tiểu học cần hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực sau: a) Năng lực tư duy và lập luận Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hóa, khái quát hóa, tưởng tượng, suy luận, giải quyết vấn đề, xử lí và linh cảm trong quá trình phản ánh, phát triển tri thức và vận dụng chúng vào thực tiễn. Năng lực tư duy của học sinh tiểu học trong quá trình học toán thể hiện qua các thao tác chủ yếu như: phân tích, tổng hợp, so sánh và tương tự, đặc biệt hóa và khái quát hóa…, bước đầu chú ý đến năng lực tư duy logic trong suy luận tiền chứng minh, các năng lực tư duy phê phán và sáng tạo, cũng như các yếu tố dự đoán, tìm tòi kể cả trực giác toán học và tưởng tượng không gian.
Biết đặt và trả lời câu hỏi câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề. Bước đầu chỉ ra được chứng cứ và lập luận có cơ sở, có lí lẽ trước khi kết luận. b) Năng lực mô hình hóa Năng lực mô hình hóa hay còn gọi là năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn là khả năng chuyển hóa một vấn đề toán học bằng cách thiết lập và giải quyết các mô hình toán học, thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế. Năng lực được thể hiện qua các hành động như sử dụng được các phép toán, công thức số học, sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được nội dung, ý tưởng, cách thức giải quyết vấn đề.
Giải được các bài tập liên quan tới mô hình được thiết lập. c) Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết tình huống có vấn đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường. Đây là một năng lực mà môn toán có nhiều thuận lợi để phát triển cho 12 người học qua việc tiếp nhận khái niệm, quy tắc toán học và đặc biệt là qua giải toán. Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh tiểu học được thể hiện qua các hành động như nhận biết, phát hiện vấn đề cần giải quyết, đặt ra được câu hỏi; đề xuất, lựa chọn cách giải quyết vấn đề; thực hiện và trình bày được hình thức giải quyết vấn đề thông qua việc sử dụng các kiến thức kĩ năng toán học tương thích (đó là các công cụ, thuật toán) và học sinh biết kiểm tra giải pháp đã thực hiện.
d) Năng lực giao tiếp toán học Năng lực giao tiếp toán học là khả năng sử dụng các dạng ngôn ngữ nói, viết và biểu diễn toán học để làm thuyết trình và giải thích làm sáng tỏ vấn đề toán học. Năng lực giao tiếp liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ toán học (chữ, kí hiệu, biểu đồ, đồ thị, các liên kết logic…) kết hợp với ngôn ngữ thông thường. Năng lực này ở học trò tiểu học được thể hiện qua việc nghe, đọc hiểu và ghi chép các thông tin nội dung văn bản do người khác thông báo ở mức độ đơn giản, từ đó nhận biết vấn đề cần giải quyết; trình bày được nội dung, ý tưởng, giải pháp khi tương tác với người khác; biết đặt câu hỏi, trả lời câu hỏi, lập luận khi giải toán; biết kết hợp động tác hình thể để biểu đạt nội dung toán học ở những tình huống không quá phức tạp. Năng lực sử dụng các công cụ, phương tiện học toán.
Học sinh tiểu học biết tên gọi, tác dụng, cách sử dụng, bảo quản các công cụ, phương tiện toán học đơn giản như: que tính, thẻ số, thước , compa, ê-ke, các mô hình học phẳng và không gian thông dụng…Làm quen với máy tính cầm tay, phương tiện công nghệ thông tin thông thường và biết ưu, nhược điểm của những công cụ, phương tiện để có cách sử dụng hợp lí. Năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tác duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán. Năng lực giải quyết vấn đề là khả 13 năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng.
Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó - thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng (PISA, 2012). Các thành tố năng lực giải quyết vấn đề Theo cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề dự kiến phát triển ở học sinh gồm 4 thành tố, mỗi thành tố bao gồm một số hành vi cá nhân khi làm việc độc lập hoặc khi làm việc nhóm trong quá trình năng lực giải quyết vấn đề. Cụ thể là: Thành tố thứ nhất: Tìm hiểu, khám phá vấn đề: nhận biết vấn đề, phân tích được tình huống cụ thể, phát hiện được tình huống có vấn đề, chia sẻ sự am hiểu về vấn đề với người khác. Thành tố thứ hai: Thiết lập không gian vấn đề: lựa chọn, sắp xếp, thông tin với kiến thức đã học.
Xác định thông tin, biết tìm hiểu các thông tin có liên quan, từ đó xác định cách thức, quy trình, chiến lược giải quyết và thống nhất cách hành động. Thành tố thứ ba: Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp: Việc lập kế hoạch chính là thiết lập tiến trình thực hiện (thu thập dữ liệu, thảo luận, xin ý kiến, giải quyết các mục tiêu…), thời điểm giải quyết từng mục tiêu. Công việc tiếp theo là thực hiện kế hoạch, cụ thể từng bước thực hiện và trình bày giải pháp, điều chỉnh kế hoạch để phù hợp với thực tiễn và không gian vấn đề khi có sự thay đổi. Thành tố thứ tư: Đánh giá và phản ánh giải pháp: Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề.
Suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề. Điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới, xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm thu được. Đề xuất giải pháp cho những vấn đề tương tự. Các phương pháp đánh giá năng lực giải quyết vấn đề Theo quan điểm giáo dục phát triển, thì đánh giá kết quả giáo dục phải hướng tới việc xác định sự tiến bộ của người học.
Vì vậy đánh giá năng lực người học được hiểu là đánh giá khả năng áp dụng những kiến thức, kĩ năng 14 đã học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống thực tiễn.