CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Một số kết quả nghiên cứu về tự học trên thế giới Vấn đề tự học và phát triển NL tự học trong giáo dục từ lâu đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Ngay từ thời cổ đại, quan điểm dạy học nhằm vào hình thành phát triển khả năng tự suy nghĩ, lý giải và vận dụng kiến thức của người học đã được nhiều nhà khoa học, triết gia và giáo dục quan tâm nghiên cứu.
Có thể kể đến Aristốt (384-322 trước công nguyên), Platon (427-347 trước công nguyên), Xôcơrát (469-390 trước công nguyên),. Ở phương Đông các triết gia Khổng Tử (551 - 479 trước công nguyên), Mạnh Tử (372 – 289 trước công nguyên) đều cho rằng việc dạy học phải quan tâm đến việc kích thích, suy nghĩ và hành động vận dụng của người học, đảm bảo người học phải suy nghĩ, tự ra quyết định chứ không nên nhắm mắt làm theo sách. Đến thế kỷ XVII, nhà giáo dục J. Comenxki (1592-1670) (tham khảo [4]) đã nghiên cứu xây dựng PPDH cho phép GV nói ít hơn, HS suy nghĩ và HĐ nhiều hơn,.
tập trung vào phát triển HĐ và khả năng tự học cho người học. Ở thế kỷ XIX, A. Dixtecvec (1790-1866) đã nêu “Người thầy bình thường mang chân lý đến cho trò, người thầy giỏi biết dạy cho trò đi tìm chân lý”. John Dewey (1859 - 1952) [8] tiếp cận quan điểm “Lấy người học làm trung tâm” đã đưa ra tư tưởng “Học bằng cách làm” (Learning by doing) để tổ chức HĐ học tập chủ động và tích cực cho người học.
Nói cách khác là tập trung vào NL tự học cho HS. Nhà sư phạm Toán học lỗi lạc Polya. G khi nghiên cứu về dạy và học Toán đã làm rõ vai trò của việc dạy cho HS tự thực hiện các bước trong quá trình học giải bài toán [41] - thể hiện rất đặc thù quá trình tự học Toán, đặc biệt là ở bước tìm tòi hướng giải bài toán. 6 Trong cuốn sách “Tự học như thế nào?”, Rubakin [43] đã chỉ ra những cách thức cụ thể để tiến hành quá trình tự học.
Trong cuốn sách viết về những phương pháp dạy và học một cách hiệu quả, nhóm tác giả Marzano [35] nhấn mạnh cả hai phía dạy và học, đặc biệt là vấn đề GV lựa chọn, tổ chức cho HS học cái gì và học như thế nào? Trong chương 2 “Con đường đến với tri thức” của cuốn sách Hiểu biết là sức mạnh của thành công (nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2005), Klas Mellander và các tác giả đã đề cập đến bí quyết thành công của việc học, theo đó cần “làm chủ bản thân” bằng cách chủ động học, thực hiện tự học theo 5 bước. Một số kết quả nghiên cứu về tự học ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề tự học và phát triển NL tự học cũng được nhiều tác giả nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục, nói riêng là DH môn Toán. Có thể kể đến một số công trình như sau: Tiếp cận và thể hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng [76] đã chỉ rõ “phương pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật trong truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để người học có thể tự học, tự nghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại”. Trong [34], Nguyễn Hiến Lê coi tự học là một nhu cầu tất yếu của thời đại, một vấn đề cần thiết đối với mọi người trong cuộc sống.
Khi tiếp cận lý luận giáo dục toán học, Phạm Văn Hoàn và các tác giả trong [21] đã nhấn mạnh đến vai trò và sự cần thiết của các HĐ tư duy trong quá trình học tập và tự học của HS trong môn Toán. Nghiên cứu về quá trình dạy tự học, Nguyễn Cảnh Toàn và các tác giả trong [54] đã đề cập đến yêu cầu phát triển NL tự học cho HS qua môn Toán - trong đó làm rõ vai trò của người học, người dạy, mô hình tự học; việc thiết kế và tổ chức các HĐ tự học một cách hiệu quả trong quá trình tự học môn Toán, từ đó hình thành phát triển cho HS KN tự học suốt đời. Tiếp tục theo 7 hướng này, Nguyễn Cảnh Toàn [55] đã chỉ ra cách dạy cho HS cách học - tự học môn Toán. Theo Trần Kiều (2014, [28]), có nhiều cách xác định NL được hình thành và phát triển qua HT toán do xuất phát từ những góc độ khác nhau.
Tác giả đã xem xét những NL cần phát triển cho HS phổ thông qua môn Toán trong mối quan hệ với những NL chung, phản ánh được đặc thù của việc học Toán để đưa ra 6 thành phần, bao gồm: “1 - NL tư duy; 2 - NL GQVĐ; 3 - NL mô hình hóa toán học; 4 - NL giao tiếp toán học; 5 - NL sử dụng các công cụ, phương tiện học toán; 6 - NL tự học, đồng thời hợp tác được với người khác một cách hiệu quả trong quá trình HT toán.” Như vậy có thể thấy KN tự học được Trần Kiều xếp “ngang hàng” và có tác dụng bao quát, đồng thời cũng nằm trong, thể hiện ở các NL khác trong toàn bộ quá trình học Toán. Ở tầm vận dụng, giải pháp phát triển NL tự học cũng được nhiều tác giả nghiên cứu trong lĩnh vực DH môn Toán. Có thể kể đến một số công trình như sau: Trong các luận án Tiến sỹ của Phạm Đình Khương (2006) [27]; Lê Hiển Dương (2006) [9], Võ Thành Phước (2009) [39]; Đỗ Thị Phương Thảo (2013) [47]; Trịnh Thị Phương Thảo (2014) [48];. đã nghiên cứu về vấn đề tự học từ những khía cạnh, nội dung và đối tượng cụ thể trong DH Toán.
Trong luận án Tiến sỹ của mình về đề xuất giải pháp “Chuẩn bị cho sinh viên sư phạm Toán giúp học sinh phổ thông tự học có hướng dẫn” [49], Phan Thị Phương Thảo đã xây dựng các BP tập trung vào “thiết kế tài liệu và tổ chức thực hành tự học”. Riêng về hướng tiếp cận tự học từ phương tiện và công nghệ, có thể kể đến: Đề tài luận án Tiến sỹ của Nguyễn Văn Hồng (2012, [23]) đã tiếp cận phát triển NL tự học cho HS thông qua khai thác kiểu DH E-Learning trong DH môn Toán lớp 12. 8 Gần đây, trong các đề tài luận văn Thạc sỹ cũng có một số kết quả nghiên cứu về phát triển KN tự học cho HS trong DH những nội dung cụ thể trong môn Toán ở trường phổ thông: + Lại Thị Minh Hiền với đề tài Bước đầu giúp học sinh làm quen với phương pháp tự học thông qua một số hệ thống bài tập toán trung học phổ thông [18]. + Trần Thị Thu Hà với đề tài Bước đầu hình thành NL tự học cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học môn Toán [13].
+ Phạm Thị Hậu với đề tài Bồi dưỡng NL tự học cho HS thông qua dạy học môn Toán 11 THPT [16]. + Nguyễn Thị Thu Hương với đề tài Dạy học hình học 8 theo hướng phát triển NL tự học của học sinh với sự hỗ trợ của Công nghệ thông tin [25]. + Nguyễn Thị Hậu với đề tài Bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh THPT trong dạy học khảo sát hàm số [17]. + Vũ Cao Thượng với đề tài Dạy học chủ đề “Hệ thức Vi-ét và ứng dụng” nhằm rèn luyện KN tự học cho học sinh Trung học cơ sở [52].
Nhìn chung lại, có thể thấy các công trình nghiên cứu về tự học tập trung vào làm rõ HĐ, NL và KN tự học, phát triển NL tự học ở những khía cạnh: khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, các loại hình, biểu hiện, cách thức,. Trong các giải pháp phát triển NL tự học cho HS qua môn Toán, các tác giả đều tập trung vào những BP tác động đến xây dựng thiết kế tài liệu hướng dẫn tự học, chuẩn bị kiến thức, KN nền tạo điều kiện cho tự học, khai thác sự hỗ trợ của phương tiện và công nghệ, và nhất là cụ thể hóa cách thức tổ chức các HĐ tự học cho HS ở trên lớp và ở nhà,. Có thể thấy: Trong những đề tài luận văn trên đều tiếp cận NL và KN tự học trong dạy học những nội dung cụ thể của môn Toán. Tuy nhiên chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về phát triển NL tự học cho HS lớp 11 trong DH “Hàm số và PT LG”.
9 Những kết quả nghiên cứu trên đã được phản ánh một cách cô đọng trong chương trình môn Toán 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành [2], trong đó chỉ rõ: + Mục tiêu, nhiệm vụ và yêu cầu phát triển NL tự học nằm trong NL chung: “Góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và NL chung” (trang 6). + Định hướng và phương pháp phát triển NL tự học: “Môn Toán góp phần hình thành và phát triển NL tự chủ và tự học thông qua việc rèn luyện cho người học biết cách lựa chọn mục tiêu, lập được kế hoạch học tập, hình thành cách tự học, rút kinh nghiệm và điều chỉnh để có thể vận dụng vào các tình huống khác trong quá trình học các khái niệm, kiến thức và kĩ năng toán học cũng như khi thực hành, luyện tập hoặc tự lực giải toán, giải quyết các vấn đề có ý nghĩa toán học” (trang 115). Cơ sở lí luận về tự học và năng lực tự học 1. Quan niệm về tự học a) Một số quan niệm về tự học Theo nghĩa từ điển [22], Tự học là quá trình chủ thể nhận thức tự mình HĐ lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng thực hành, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo.
Các nhà Tâm lý học, Giáo dục học trong các công trình [8], [11], [15], [32], [34], [35], [43], [65],. tiếp cận tự học như là HĐ học mang tính độc lập, cần đến ý thức tự giác của người học, thể hiện sự chủ động tự điều hành, điều chỉnh, kiểm tra việc học của bản thân. Xem xét tự học từ góc nhìn cách thức, BP, Nguyễn Cảnh Toàn ([54], trang 87) quan niệm “Học cách học về ngữ nghĩa học có thể coi đồng nghĩa với sự tự học và sự cá thể hoá giáo dục”, theo đó muốn học cách học thì cần tới tình huống tự học.