Chương 1: Cơ Sở Lý luận Về Giáo Dục Thể Chất - Chương 2: Thực Trạng Về Giáo Dục Thể Chất Của Học Sinh Trƣờng THPT Diên Hồng Quận 10, TP. HCM - Chương 3: Giải Pháp Nâng Cao Chất Lƣợng Giáo Dục Thể Chất Cho Học Sinh Tại Trƣờng THPT Diên Hồng Quận 10, TP. HCM 5 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT 1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới TDTT ra đời cùng với sự phát triển của loài ngƣời từ 4000 năm trƣớc công nguyên : Rất nhiều dân tộc thời cổ sống ở châu Á , châu Phi, Nam Mỹ…. đã biết cƣỡi ngựa,bắn cung, vật, bơi thuyền, ném đá, phóng lao.Tiến thêm 1 bƣớc nữa, các loại hình vận động từ chỗ mang tính chất trò chơi đã đƣợc nâng lên thành các trò chơi – thi đấu.
- 1873: Thuật ngữ GDTC xuất hiện ở Nhật Bản họ nhận thức đƣợc sự cần thiết cho sức khỏe thể chất và tập thể dục cho thƣ giãn. - 1876: Đại diện là Park Younghyo, nhà khoa học tại Hàn Quốc chứng minh đƣợc tầm quan trọng của việc rèn luyện sức khỏe trong cuộc sống và thuật ngữ GDTC bắt đầu đƣợc thừa nhận. - 1879: Khái niệm đầu tiên của ngành GDTC tại Hàn Quốc đã đƣợc coi là giáo dục đào tạo vật lý thông qua tập thể dục. - Từ 1960 – 1963: tại Mỹ các tác giả : Duncan, Watson (1960), Cowell (1963) đã nghiên cứu về chất lƣợng GDTC và chỉ ra đƣợc ý nghĩa của sức khỏe thể chất cũng nhƣ mối quan hệ của nó với kết quả hoạt động của mỗi cá nhân.
- Trong giai đoạn 1964 – 1970, một số tác giả đƣa ra khái niệm mới về GDTC nhƣ là “ Nghệ thuật và khoa học của các chuyển động của con ngƣời” đã đƣợc đề xuất bởi các học giả nhƣ : Felshin (1967) và Zeigler (1968). - Trong những năm 70 các tác giả: Felshin ( 1972), Seidel và Resick( 1972), Siedentop (1972), Vanderzwaag (1972), Nixon và Jewett ( 1974), Zeigler (1975), nghiên cứu giáo dục thể chất và coi đó nhƣ hoạt động chuyển động của con ngƣời. Thực tế “chuyển động của con ngƣời” là một cụm từ quan trọng trong định nghĩa của GDTC có thể đƣợc giải thích bởi các trƣờng hợp 6 Luan van cụ thể, trong đó GDTC đã có để xác định tình trạng của nó nhƣ là một ngành học quan trọng ở Mỹ.[11] Những năm 80 trở lại đây, việc nghiên cứu GDTC ở một số nƣớc trên thế giới chủ yếu tập chung vào việc nâng cao chất lƣợng GDTC trong trƣờng học và các nhà khoa học cố gắng tìm các giải pháp nhằm đổi mới phƣơng pháp giảng dạy cũng nhƣ xây dựng các tiêu chí để đánh giá chất lƣợng GDTC cho phù hợp với hoạt động giảng dạy GDTC trong nhà trƣờng ở một số nƣớc nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp. Hiện nay bộ môn GDTC ở một số nƣớc trên thế giới đƣợc coi nhƣ một môn học bắt buộc, cụ thể hệ thống GDTC ở trƣờng phổ thông của một số nƣớc nhƣ sau: - Áo: Từ 14-18 tuổi 2-3 giờ/ tuần.
- Anh: Mục tiêu thể thao trƣờng học từ năm 1998 đến năm 2001 đạt 83% số trƣờng lên lớp TDTT nội khóa 2 giờ/tuần, đạt 52% học sinh tham gia câu lạc bộ TDTT ngoại khóa. - Đan Mạch : Đối với tất cả các lớp 2 giờ / tuần, các giờ ngoại khóa bắt buộc. - Canada: Nội dung và thời gian của chƣơng trình do chính quyền tỉnh quyết định, từ 2-3 giờ / tuần. - Mỹ: 40% các trƣờng phổ thông tiến hành tập TDTT 1 giờ / ngày.
Các giờ học ít mang tính chất giảng dạy động tác, mà là tập luyện dƣới các hình thức trò chơi, tiếp sức, thi đấu. - Phần Lan: Lớp 1-2 tập 5 giờ / tuần, lớp 3-4 tập 3-4 giờ / tuần, lớp 5-6 tập 2,5 giờ / tuần, đối với học sinh THPT từ 3-4 giờ / tuần. Chƣơng trình không có tính chất bắt buộc, ngƣời giáo viên có thể điều chỉnh chƣơng trình theo tình hình của trƣờng. - Pháp: một số trƣờng thực nghiệm tập từ 6-10 giờ / tuần, thậm chí đến 12 giờ / tuần.
- Thụy Điển: Tiến hành tập các bài tập tự chọn 1 giờ / ngày. 7 Luan van - Nam Tƣ: Học sinh THPT mỗi tuần có 3 giờ thể dục, nội dung chƣơng trình mang tính chất chuẩn bị thể lực chung, có chú ý đến các môn thể thao tự chọn. - Nhật Bản: Thể dục là 1 trong 5 môn có số giờ cao nhất sau môn tiếng Nhật và môn Toán, môn Thể dục đƣợc quy định chính thức trong chƣơng trình từ lớp 1 đến lớp 12. Hiện ở Nhật gần 60% học sinh từ lớp 7 đến lớp 9 tập luyện trong các câu lạc bộ khoảng 8 giờ / tuần.
- Nga: Thực hiện 2 giờ / tuần trong đó có phần cơ bản( bắt buộc) và phần mềm (có thể tự điều chỉnh) song song với việc tiến hành hoạt động ngoại khóa trong các câu lạc bộ, đội nhóm tập luyện từng môn. Trong đó, có quy định các hoạt động thể dục sức khỏe trong chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trƣờng nhƣ: thể dục trƣớc giờ học, thể dục trong tiết học, bài tập và trò chơi trong giờ ra chơi chính, tập luyện hằng ngày đối với các lớp ở trƣờng cả ngày.[11] - Riêng ở Việt Nam, giờ tập thể dục chính khóa đƣợc quy định 2 tiết/ tuần. Hoạt động ngoại khóa với các môn thể thao thì tùy thuộc vào tình hình của từng trƣờng. Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hoạt động thể dục chính khóa chƣa thật sự tạo đƣợc hiệu quả cao trong từng tiết học.2 Ở Việt Nam Thực hiện chỉ thị của Thủ tƣớng chính phủ ngày 21/04/1997 , Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục TDTT đã ký văn bản thỏa thuận đề nghị Chính phủ phê duyệt kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT ngành giáo dục và đào tạo thời kỳ năm 1996-2000 và định hƣớng đến năm 2010, trong đó nêu rõ một số điểm sau đây : - Mục tiêu GDTC trƣờng học từ mẫu giáo đến đại học là góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện về nhân cách , trí tuệ , thể chất , phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa ; - Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống TT theo cấp học , đặc biệt là Hội khỏe Phù Đổng, phát triển mạnh các câu lạc bộ TDTT và các trung tâm TT sinh viên , làm cơ sở luyện tập nâng cao thành tích một số môn TT trọng tâm và vấn đề GDTC cho học sinh trƣờng học ; 8 Luan van - Do điều kiện giảng dạy nội khóa chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của GDTC , Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban TDTT chỉ đạo các trƣờng học khuyến khích và hƣớng dẫn học sinh tập luyện những môn ƣa thích tại trƣờng , gia đình và các câu lạc bộ nơi cƣ trú.
Vì vậy , hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo đều có văn bản hƣớng dẫn thực hiện GDTC cho học sinh , ngoài chƣơng trình TDTT nội khóa cần đẩy mạnh họat động TDTT ngoại khóa cho học sinh. Nhiệm vụ chính của GDTC chính khóa là truyền đạt kỹ thuật vận động , kỹ năng TT , giáo dục cho học sinh ý thức tự giác , tích cực tham gia học tập , rèn luyện TDTT. Quán triệt sâu sắc nội dung nghị quyết , chỉ thị của Đảng , các văn bản pháp luật của Chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới , hai ngành giáo dục và đào tạo và TDTT đã thống nhất nội dung biện pháp nhằm thúc đẩy nhanh và nâng cao chất lƣợng GDTC cho học sinh , đồng thời ngành nhất trí xây dựng chƣơng trình mục tiêu cải biến nâng cao chất lƣợng GDTC. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế số 931/RLTC về công tác GDTC trong nhà trƣờng các cấp là : “Các chƣơng trình từ mầm non đến đại học phải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục cho học sinh , sinh viên”.
Tùy theo điều kiện cụ thể của từng trƣờng nhƣ : lứa tuổi , giới tính , đặc điểm cá nhân , trang thiết bị , sân bãi ,… mà sắp xếp các môn TT thích hợp để làm phƣơng tiện GDTC cho học sinh , sinh viên. “Nhà trƣờng phải có kế hoạch , hƣớng dẫn học sinh , sinh viên tập luyện TDTT , thƣờng xuyên tổ chức ngày hội TT của trƣờng và xây dựng thành nề nếp truyền thống. Kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn phát triển thể lực cho học sinh, sinh viên theo quy định của chƣơng trình giáo dục thể chất ” [29]. Nƣớc ta trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học nổi bật về đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên nhƣ: Trong công trình nghiên cứu của Lƣu Quang Hiệp (1994) về: “Đặc điểm hình thái chức năng và trình độ thể lực của học sinh các trường nghề Việt Nam ”, 9 Luan van tác giả đã sử dụng 3 nhóm chỉ tiêu là : hình thái , chức năng và tố chất thể lực.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu hình thái và tố chất thể lực của học sinh các trƣờng nghề nhìn chung cao hơn hình thái, thể lực của học sinh , sinh viên các trƣờng khác cùng lứa tuổi. Đồng thời tác giả đã phát hiện quá trình học tập, lao động của học sinh các trƣờng nghề đã mắc phải những khuyết tật về hình thể cần uốn nắn , sửa chữa [10]. Trấn Tuấn Hiếu, Nguyễn Quốc Huy(2010) “ Thực trạng công tác giáo dục thể chất của học sinh trường đại học Ngoại Ngữ- Đại học Quốc Gia Hà Nội” Tuyển tập nghiên cứu khoa học GDTC và Y tế học đƣờng, NXB. Tác giả đã chỉ ra thực trạng công tác GDTC của nhà trƣờng thông qua hiện trạng công tác cán bộ, hệ thống tổ chức quản lý, cơ sở vật chất.
đội ngũ giảng viên giảng dạy GDTC, kết quả học tập lý thuyết và thực hành, trình độ thể lực của học sinh [7]. Qua phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp nhiều thông tin rất quý giá về những vấn đề bất cập cũng nhƣ thực trạng công tác giáo dục thể chất hiện nay tại các trƣờng học. Những công trình này góp phần quan trọng để hình thành cơ sở lý luận chung cho đề tài. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.